Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/08/2012
Giải quyết đủ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nhìn từ thủy điện A Lưới

Người dân tái định cư thủy điện A Lưới có nhà ở khang trang nhưng thiếu đất sản xuất (Nguồn: Báo Công an nhân dân)

Giải quyết đủ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện tái định cư các công trình thủy điện ở vùng miền núi, dân tộc là một bài toán khó, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thực tế diễn ra ở thủy điện A Lưới là một ví dụ điển hình.

Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế có một số khu tái định cư (TĐC) các công trình thủy điện, thủy lợi lớn như: Khu TĐC bản Bồ Hòn (Thủy điện Bình Điền); TĐC bản Phúc Lộc và Bến Ván (Thủy lợi hồ Tả Trạch), TĐC thôn 5, xã Hồng Tiến, Hương Trà và thôn A Rom, xã Hồng Hạ, Huyện A Lưới (Thủy điện Hương Điền), TĐC thôn Kăn Sâm, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới (thủy điện A Lưới)… Nhìn chung, các khu TĐC trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế đều đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ là “Nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”, nhất là về nhà ở và cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Điện, đường, trường, trạm, nhà sinh hoạt cộng động, nước sinh hoạt, thông tin liên lạc…Tuy nhiên, nhu cầu của người dân TĐC không chỉ có cơ sở hạ tầng và nhà ở mà nguyện vọng lớn nhất lại là được cấp đủ đất sản xuất để trồng lúa đảm bảo lương thực, trồng cây công nghiệp dài ngày, trồng rừng kinh tế để nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống.

Thủy điện A Lưới có công suất 170 MW, tổng mức đầu tư trên 3.200 tỷ đồng. Là công trình thủy điện lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế nên có tác động rộng đến đời sống và sản xuất của hàng ngàn hộ dân, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số. Ban Dân tộc tỉnh Thừa Thiên-Huế và huyện A Lưới đã từng điều tra, khảo sát và phỏng vấn 974 hộ dân (khoảng 75%) số hộ phải TĐC nhường đất cho công trình. Kết quả cho thấy, nhiều con số đáng quan ngại: 87,68% số hộ dân bị mất đất hoặc còn rất ít đất sản xuất hàng năm, có nguy cơ mất an toàn về lương thực; 35% hộ dân không có đất trồng cây lâu năm và 28,85% còn rất ít dẫn đến nguy cơ không còn hoặc hạn chế thu nhập tiềm năng, ảnh hưởng đến mục tiêu thoát nghèo bền vững. Mất đất sản xuất khiến 27,1% số hộ được phỏng vấn tự đánh giá đời sống kém hơn so với nơi ở cũ; 29,06% lo lắng về tương lai, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phải du canh, du cư vào các tiểu khu rừng phòng hộ sát biên giới Việt-Lào phát rừng trái phép làm nương rẫy...

Kết quả điều tra, khảo sát cũng đã chỉ ra rằng: Bất cập từ ngay trong cơ chế đền bù đất sản xuất. Hiện nay, có 2 cách thức đền bù: “đất đổi đất” hoặc “tiền đổi đất”. Đất sản xuất ở khu tái định canh được các hộ dân đánh giá là quá xấu, không phù hợp với sản xuất lúa, canh tác các loại lương thực khó đem lại năng suất cao. Nhiều hộ dân khẳng định vì đất xấu, lại giao ít diện tích nên đành chấp nhận phương án “tiền đổi đất” bất đắc dĩ. Việc giải quyết đền bù về đất sản xuất bằng tiền thay vì đất đổi đất đã dẫn đến hệ lụy là đồng bào sử dụng đồng tiền không hợp lý. Theo tài liệu của Công ty Cổ phần Thủy điện miền Trung cung cấp, tổng số tiền đền bù của các hộ là hơn 88 tỷ đồng cho 1.032 hộ, bình quân mỗi hộ nhận khoảng 85 triệu đồng. Tuy nhiên, trên 70% số hộ nhận tiền đền bù không đầu tư hoặc đầu tư không đáng kể cho sản xuất trong khi phần lớn tiền đền bù có nguồn gốc từ sản xuất. Tuyệt đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số bị mất đất được đền bù bằng tiền chưa bao giờ được nhận một lúc số tiền lớn như vậy nên không biết cách sử dụng hiệu quả, phần lớn số tiền nhận được đã chi tiêu hết cho các hoạt động phi sản xuất, dẫn đến tình trạng lại trở thành thiếu vốn sản xuất.

Từ giữa năm 2011, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã nhận thấy những bất cập của phương thức đổi tiền lấy đất nên đã chỉ đạo phải trích 50% số tiền đền bù mà các hộ dân sẽ tiếp tục được nhận theo chính sách đền bù mới để thực hiện phương án đất đổi đất nhằm hạn chế tình trạng rừng tự nhiên bị tàn phá cùng những bất ổn xã hội do tái diễn du canh du cư gây ra.

Có một thực tế là trên 90% các hộ dân bị mất đất là nông dân. Tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là đất nông nghiệp. Từ thực tế diễn ra ở khu TĐC thủy điện A Lưới cho thấy, một trong những nguyên tắc cần đặt trọng tâm là “người cày có ruộng, lâm dân có rừng” khi thực thi các dự án TĐC. Theo đó, người dân phải được cấp đất đủ để sản xuất lương thực đảm bảo cuộc sống, đồng thời có thu nhập tiềm năng để nâng cao đời sống từ trồng cây công nghiệp dài ngày và trồng rừng sản xuất. Chỉ khi giải quyết được triệt để mối quan hệ giữa đảm bảo cái ăn hàng ngày với cải thiện thu nhập tiềm năng từ đất sản xuất thì đồng bào mới yên tâm định canh, định cư.

Ở Thừa Thiên-Huế có khá nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới đã định canh, định cư bền vững, có đời sống khá giả nhờ thu nhập tiềm năng từ cây công nghiệp dài ngày và trồng rừng kinh tế. Đó là hộ ông Lý Bun-dân tộc Cơ tu ở thôn A Rí, xã Hương Nguyên, huyện A Lưới có 1 ha cao su bắt đầu cho thu hoạch từ năm ngoái 40-42 triệu đồng; ông Quỳnh Trân, dân tộc Tà Ôi ở thôn A Roàng 2, xã A Roàng, huyện A Lưới trồng 5 ha keo cho thu nhập 180 triệu đồng từ năm 2006-2011; ông Phạm Văn Ngôi, dân tộc Cơ tu ở thôn 6, xã Thượng Long, huyện Nam Đông thu nhập 120 triệu đồng/năm từ 2,44 ha cao su…

Ông Võ Văn Dự-Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Thừa Thiên-Huế cho rằng: Giải quyết đất sản xuất cho người dân TĐC phải đồng bộ nhiều giải pháp, nhất là trong bối cảnh diện tích đất ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa. Ngoài việc khai hoang đất trồng lúa nước, cần chú trọng khảo sát các khu rừng tự nhiên nghèo kiệt để thu hồi và giao cho các hộ dân thiếu đất hoặc mất đất trồng rừng kinh tế hoặc trồng cây công nghiệp dài ngày theo mức mỗi hộ có tối thiểu 1.500 m2 ruộng 2 vụ hoặc 2.500 m2 ruộng 1 vụ hay 5.000m2 nương rẫy theo quy định của Quyết định 134/2004/QĐ-TTg về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; mỗi hộ tối thiểu 500 m2 đất vườn gắn với nhà ở; tuỳ điều kiện thực tế có thể giao thêm mỗi hộ khoanh nuôi, bảo vệ 5 ha rừng tự nhiên. Như vậy, mỗi hộ hàng năm có khoảng 1.350 kg lương thực có hạt, đạt bình quân 270 kg/khẩu (nếu tính mỗi hộ 5 khẩu), đảm bảo không chỉ có lương thực đủ ăn mà còn có dự phòng khi mất mùa; có đất vườn để trồng rau, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm; có rừng trồng cây công nghiệp dài ngày, rừng kinh tế, sản phẩm thu hoạch từ rừng tự nhiên (là những thu nhập tiềm năng) để tích luỹ vốn và tái sản xuất. Tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương có thể cân đối tăng, giảm diện tích giữa các loại đất theo nguyên tắc quy đổi giá trị.

Thực hiện giao đất, giao rừng xen kẽ giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số theo từng cộng đồng nhỏ, từng xóm, thửa, lô sản xuất nông lâm nghiệp để học tập lẫn nhau cách thức tổ chức và kỹ thuật sản xuất. Động viên các hộ dân còn tiền tập trung đầu tư vào sản xuất. Đề nghị các Công ty Cổ phần Thủy điện tạo điều kiện để đồng bào sử dụng giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi hoặc tiền bồi thường để tham gia góp vốn dưới hình thức cổ phần. Nếu thực hiện được ý tưởng này thì các hộ dân bị mất đất sẽ gắn bó với công trình thuỷ điện, hợp tác với chủ đầu tư trong công tác giải phóng mặt bằng, người dân và nhà máy cùng có lợi.

Việc xem xét và phê duyệt các dự án TĐC nhất thiết phải đặt vấn đề đầu tiên là đất sản xuất cho người dân ở đâu, bao nhiêu, có đảm bảo sinh kế bền vững không. Đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi đại đa số là nông dân. Do đó, đảm bảo đủ đất sản xuất không chỉ nhằm xóa đói giảm nghèo mà còn đảm bảo sinh kế bền vững giúp đồng bào cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống. Đi đôi với đó là phải xây dựng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi ở các khu TĐC và tổ chức tập huấn để các hộ dân học tập kinh nghiệm.

Trong bối cảnh thiếu đất trồng cây ngắn ngày, nhất là lúa nước, cần tập trung phát triển mạnh kinh tế trang trại trồng rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc. Trong kinh tế trang trại, chú ý tận dụng đất đai để phát triển hợp lý giữa các cây, con ngắn ngày và dài ngày. Sản phẩm ngắn ngày nhưng mang tính hàng hóa như sắn công nghiệp và sản phẩm dài ngày cần được khuyến khích phát triển mạnh để hình thành dần ý thức sản xuất hàng hóa trong đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích các hộ dân bị mất đất có uy tín trong cộng đồng phát triển kinh tế trang trại để hỗ trợ, giúp đỡ các hộ bị mất đất khác trong cộng đồng, trong họ tộc không biết cách tự tổ chức sản xuất có việc làm, thông qua đó học tập kinh nghiệm để tự mình tổ chức sản xuất trong phạm vi hộ gia đình./.

(Theo Website Đảng CSVN)

[TT: NTV]

 Bản in   Gửi tin qua E-mail   Gửi phản hồi


[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Chuyện xóa nghèo trên cao nguyên trắng (07/2012)
  •  
  • Bắc Cạn bảo tồn, phát triển giống lúa bản địa (07/2012)
  •  
  • Biểu dương cựu thanh niên xung phong giúp nhau làm kinh tế giỏi (07/2012)
  •  
  • Xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm (06/2012)
  •  
  • Hiệu quả Chương trình 135 ở huyện Kim Bôi (05/2012)
  •  
  • Nữ Bí thư Đảng uỷ xã 2 giỏi (05/2012)
  •  
  • Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ tại khu vực Tây Nguyên (05/2012)
  •  
  • Đổi đời từ khi có nước sạch (05/2012)
  •  
  • Tình quân dân trên địa bàn biên giới Tây Nguyên (04/2012)
  •  
  • Tổ chức Hội nghị nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi toàn quốc lần thứ 4 (04/2012)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,189,944


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs