Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/12/2011
Những thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản

Tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở Lâm Ðồng. Ảnh: Dương Ngọc

Những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) ở nước ta đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác này vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi cần phải có những nhóm giải pháp đồng bộ và sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành liên quan.

Tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em tuy đã được cải thiện, nhưng tai biến sản khoa và tử vong mẹ vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng, miền. Tử vong trẻ em dưới một tuổi và dưới năm tuổi tuy đã giảm mạnh nhưng tử vong sơ sinh còn cao (chiếm khoảng 70% số ca tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, 50% số ca tử vong trẻ em dưới năm tuổi). Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng đẻ tại nhà, đẻ không có cán bộ được đào tạo đỡ còn khá phổ biến ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp.

Hoạt động cung ứng phương tiện tránh thai gặp khó khăn. Trong khi đó, những năm tới, do số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng (dự kiến đạt gần 27 triệu người vào năm 2020), nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai, nhất là các biện pháp tránh thai hiện đại, sẽ tiếp tục tăng và luôn giữ ở mức cao. Tình trạng phá thai và vô sinh còn nhiều. Tỷ lệ phá thai, bao gồm cả phá thai ở thanh niên, người chưa thành niên còn cao. Tình trạng phá thai lặp lại còn khá phổ biến, phá thai không an toàn vẫn còn xảy ra. Tỷ lệ vô sinh còn cao, nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cho người vô sinh còn hạn chế. Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền qua đường tình dục - HIV và ung thư đường sinh sản còn cao. Việc khám, phát hiện, điều trị, theo dõi và tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm đúng mức. Việc sàng lọc, phát hiện sớm và dự phòng ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng rãi. Sự kết nối giữa hệ thống dịch vụ chăm sóc SKSS và phòng, chống HIV/AIDS còn hạn chế. SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD) ở các nhóm đối tượng đặc thù còn nhiều thách thức. Tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở người chưa thành niên và thanh niên có xu hướng gia tăng. Hiểu biết, hành vi về SKSS, SKTD của người chưa thành niên và thanh niên còn nhiều hạn chế. Kiến thức, thái độ và hành vi về DS - SKSS trong cộng đồng và ngay cả cán bộ y tế còn chưa cao. Dịch vụ chăm sóc SKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa đáp ứng được nhu cầu. Nhận thức về giới trong cộng đồng rất hạn chế, thiếu hiểu biết về ảnh hưởng của bạo lực tình dục tới SKSS, SKTD của nạn nhân; thiếu hiểu biết về mối liên quan giữa lạm dụng chất gây nghiện và bạo hành giới; quan niệm lạc hậu về vai trò của nam và nữ, phụ nữ thiếu hiểu biết về quyền của bản thân.

Ðể khắc phục những tình trạng đó, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011- 2020 với nhiều nội dung quan trọng. Chiến lược xác định bảy giải pháp cụ thể, từ tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông đối với tất cả các nhóm đối tượng, tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi và trẻ vị thành niên; nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục; nâng cao chất lượng dịch vụ dành cho người cao tuổi, trẻ vị thành niên, chất lượng dịch vụ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện đào tạo và tập huấn theo địa chỉ, theo nhu cầu, nhất là vùng sâu, vùng xa... Các giải pháp để cải thiện tình trạng SKSS, nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS trong Chiến lược không thể tập trung ưu tiên vào bất cứ một nhóm đối tượng đặc biệt nào, mọi nhóm đối tượng đều được quan tâm, và mọi giải pháp đều được đặt trong một kế hoạch tổng thể và toàn diện. Ðó là sự kết hợp giữa những nhóm giải pháp về cơ chế quản lý, về xây dựng văn bản chính sách pháp luật, giải pháp về tài chính, đào tạo cán bộ chuyên môn kỹ thuật; cung ứng dịch vụ và xã hội hóa công tác CSSKSS. Như vậy, chất lượng SKSS nói riêng và sức khỏe người dân nói chung mới được cải thiện và nâng cao.

(Theo Nhandan.org.vn)

[TT: NTV]

 Bản in   Gửi tin qua E-mail   Gửi phản hồi


[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Quảng Trị: Khám, điều trị gần 1.800 lượt bệnh nhân (12/2011)
  •  
  • Dịch cúm mới xâm nhập Việt Nam (12/2011)
  •  
  • Khám bệnh, cấp thuốc cho hơn 8000 người dân miền núi, biên giới (12/2011)
  •  
  • Tập huấn phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ y tế thôn bản (12/2011)
  •  
  • Để các cô đỡ thôn bản gắn bó với nghề (12/2011)
  •  
  • Mít-tinh hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống AIDS (12/2011)
  •  
  • Tăng cường phòng chống bệnh tay chân miệng (11/2011)
  •  
  • Dân số thế giới chạm ngưỡng bảy tỷ người (10/2011)
  •  
  • Mua dự trữ 500.000 liều vắc xin tai xanh (10/2011)
  •  
  • Hà Nội: Mít tinh hưởng ứng ngày Thị giác thế giới (10/2011)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,673,119


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs