Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 07/12/2010
Nên có đề án về kiểm soát chất lượng dân số đồng bào vùng dân tộc

Chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Hội thảo chuyên đề công tác DS-SKSS đồng bào dân tộc thiểu số vừa được tổ chức tại Lào Cai vừa qua, vấn đề mà các nhà khoa học và quản lý đặt ra là, tính chính xác của các số liệu thống kê về mức sinh thay thế, tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT)… chưa thuyết phục. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng này như thế nào?

Từ các con số thống kê

Theo báo cáo của Tổng cục DS-KHHGĐ, trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế (số con trung bình của một phụ nữ) là 2,03 con thì ở các tỉnh miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, mức sinh còn rất cao.

Ông Trần Xuân Giong – PGĐ Trung tâm DS – KHHGĐ huyện Si Ma Cai, Lào Cai cho biết: Theo số liệu được báo cáo tổng hợp từ tuyến xã gửi lên, người dân trong tuổi sinh đẻ áp dụng BPTT đạt được 75 – 80%. Tổng tỉ suất sinh thô, tức là số con trung bình của một phụ nữ ở Si Ma Cai cũng khoảng 2,7%. Theo quy luật, nếu tỉ lệ áp dụng BPTT đạt 71% thì địa phương đó sẽ đạt được mức sinh thay thế (2 con/phụ nữ). Như vậy, chắc chắn con số thực tế chỉ đạt 50 – 55% người dân độ tuổi sinh đẻ áp dụng BPTT. Tương tự như vậy, số con thứ 3 được báo cáo là 25,1%, nhưng trên thực tế còn cao hơn.

Theo ông Giong, loại trừ sai số cho phép, sở dĩ con số thực và báo cáo vênh nhau như vậy, một phần là do những người làm công tác thống kê chưa chính xác. Đặc thù của chị em phụ nữ miền núi là nhiều người không thích đặt vòng tránh thai vì khi leo núi, họ có thể bị đau bụng, rong huyết. Vì thế, sau một thời gian, họ muốn thay đổi BPTT. Một phụ nữ thay đổi từ đặt vòng sang tiêm/cấy thuốc chẳng hạn, có thể được tính là 2 ca áp dụng BPTT. Một phụ nữ trên 49 tuổi, tức là bước qua độ tuổi sinh đẻ nhưng vẫn có tên trong danh sách đang áp dụng BPTT. Tại cuộc khảo sát ở xã Sử Pán, có những chị vẫn có tên trong danh sách đặt vòng, nhưng đối chiếu sổ quản lý theo hộ gia đình thì lại không có tên. Hai năm trước, khi bộ máy ngành dân số có sự xáo trộn, đã rất nhiều cán bộ có kinh nghiệm, chuyên môn vững chuyển công tác. Giờ đây, nhiều cộng tác viên thôn bản được chuyển ngạch sang là y tế thôn bản, làm công tác thống kê nhưng trình độ có hạn nên chuyện sai số là không tránh khỏi.

Tương tự như vậy, ở Sơn La, ông Sa Văn Khuyên, Chi cục trưởng Chi cục Dân số cũng cho biết đã kiến nghị rất nhiều lần về vấn đề thống kê báo cáo còn chưa chính xác này. Đây không chỉ là sai số mà nếu không có số liệu thật, sẽ không đánh giá đúng thực chất, đưa ra các chỉ tiêu hàng năm ảo, đầu tư không thích đáng. Ví dụ như tỉ suất sinh thô ở Sơn La theo thống kê là 18,9% nhưng theo Tổng điều tra DS lên tới 22,7 – 23,6%. Sơn La có 206 cán bộ y tế thôn bản, nhưng trong đó chỉ có 61 người là những người làm lâu năm, giàu kinh nghiệm. Còn lại đều là những người mới. Ngoài hạn chế về trình độ của cán bộ dân số ở cơ sở, còn có lý do xuất phát từ ý thức chủ quan của họ. Đãi ngộ quá thấp, người được tuyển dụng họ chỉ có lương cơ bản, người hợp đồng được lương tối thiểu, cộng tác viên được trả 100 nghìn đồng/tháng. Họ không thể dựa vào đó để sống. Nếu một ca tháo vòng tránh thai cũ, đặt vòng mới, họ có thể ghi là 2 ca để hưởng thù lao cho 2 ca.

GS,TS Nguyễn Đình Cử, Viện trưởng Viện dân số và các vấn đề xã hội (Trường Đại học Kinh tế quốc dân) cũng đưa đặt ra câu hỏi về tính chính xác của các số liệu thống kê. 10 tỉnh có mức sinh cao nhất, từ 2,55 – 3,45% đều rơi vào các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung Tây nguyên như Kon Tum, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Đắc Nông, Lào Cai…. Những tỉnh này đều có tỉ lệ BPTT đạt trên 70%. Hay lấy ví dụ Quảng Trị có tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai đạt 81,58% thì đáng lẽ phải mức sinh là 1,44; nhưng theo số liệu được báo cáo thì con số này lại lên tới 2,85.

TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS – KHHGĐ cũng thừa nhận có những số liệu thống kê chưa chính xác. Bởi ông cũng đã gặp trường hợp người vợ là cán bộ dân số, chị không biết chữ nhưng lại biết vận động người dân rất tốt. Vì thế, số liệu thống kê đều do người chồng biết chữ giúp làm. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, chúng ta có những số liệu chưa chính xác còn hơn là không có số liệu nào.

Phải khẳng định, chúng ta vẫn chưa có những con số thống kê chính xác về DS - KHHGĐ, nếu nói rằng, chúng ta đã đạt mục tiêu Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010, thì kết quả này cũng sẽ gây những băn khoăn, nghi ngờ.

Bên cạnh đó, con số thống kê chưa chính xác còn kéo theo những hệ lụy khác. Theo ông Nguyễn Trần Lâm, Tổ chức UNESCO, các chính sách dân số đều phải dựa trên các bằng chứng cụ thể, trên các nghiên cứu định tính là các số liệu và những ý kiến phỏng vấn người dân để sáng tỏ các số liệu. Nếu không, các chính sách và việc thực thi sẽ bị chệch hướng hoặc đi theo đường mòn, mang tính phong trào.

Đến những giải pháp

Để khắc phục tình trạng này, nhiều ý kiến cho rằng, thực tế, việc các tỉnh miền núi chưa đạt mục tiêu về DS-KHHGĐ và có số liệu thống kê chưa chính xác do nhiều nguyên nhân, rào cản: rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, sự phát triển kinh tế - xã hội thấp; bên cạnh đó là những khó khăn về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ chế chính sách… Do đó, chúng ta cần đầu tư vật chất và con người gấp nhiều lần ở khu vực này mới hy vọng trong 5 - 10 năm tới hầu hết các tỉnh có đông đồng bào thiểu số sinh sống đạt được mức sinh thay thế.

Một vấn đề cũng được các đại biểu đặt ra, đó là nên chăng Chính phủ cần ban hành Đề án kiểm soát dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa để nhanh chóng đạt được mức sinh trung bình của cả nước, nâng cao chất lượng sống của đồng bào nơi đây.

TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS – KHHGĐ cho biết: Nếu năm 2011 công tác DS-KHHGĐ ở Trung ương có chuyển hướng mạnh từ số lượng sang chất lượng với thứ tự ưu tiên là chất lượng dân số, cơ cấu dân số rồi mới đến kiểm soát mức sinh thì ở các tỉnh miền núi, ưu tiên số 1 vẫn là giảm sinh, giảm nhanh tình trạng gia tăng.

Trên góc độ nào đó, các số liệu này, dù có sai số cũng vẫn có thể định hướng cho người quản lý về xu hướng tăng hay giảm của các biện pháp tránh thai. Việc hạn chế trình độ và kinh nghiệm của cán bộ y tế cũng không phải là vấn đề giải quyết một sớm một chiều. Hiện tại trên toàn quốc có khoảng 160.000 cộng tác viên dân số, chi phí phụ cấp, thù lao cho họ mỗi tháng đã lên tới 8 tỉ đồng, mỗi năm là 100 tỉ đồng, chiếm 1/7 ngân sách dành cho công tác dân số. Tới đây, Tổng cục DS – KHHGĐ sẽ đề đạt ý kiến với Quốc hội và Chính phủ về việc tăng mức thù lao này để động viên và khuyến khích họ làm việc hiệu quả, nhiệt tình hơn nữa./.

(Nguồn: Website Đảng Cộng sản VN)

[TT: NTV]

 Bản in   Gửi tin qua E-mail   Gửi phản hồi


[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Làng Thanh niên lập nghiệp: Điểm sáng vùng biên giới, đặc biệt khó khăn (11/2010)
  •  
  • Những đổi thay về kinh tế - xã hội của huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng (11/2010)
  •  
  • Hiệu quả Chương trình 135 giai đoạn II ở xã Công Trừng, huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng (10/2010)
  •  
  • Tập huấn Đánh giá hiệu quả tác động của Chương trình 135 đối với tỉnh Cao Bằng (09/2010)
  •  
  • Đánh giá tác động của Trang thông tin Chương trình 135 tại Cao Bằng (08/2010)
  •  
  • Tích cực tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi cao (08/2010)
  •  
  • Huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội nghị Báo cáo Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Quyết định 167/QĐ-TTg (07/2010)
  •  
  • Kết quả thực hiện chương trình 135 ở tỉnh Thái Nguyên (07/2010)
  •  
  • Giám sát thực hiện Chương trình 135 tại Kiên Giang (07/2010)
  •  
  • Ghi nhận những thay đổi tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Bắc Giang (07/2010)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,145,756


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs