Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Kết quả thực hiện chỉ thị số 45 của Ban Bí thư về một số công tác ở vùng dân tộc Mông của huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La


Thiếu nữ Mông.

Lê Trọng Vinh

(Bộ Nội vụ)

 

Huyện Sông Mã có diện tích tự nhiên là 3.136 km2, dân số 140.000 người gồm 6 dân tộc anh em: Thái (58,5%), Kinh (13,4%), Mông (26%), Khơ Mú, Sinh Mun và Lào. Huyện có 26 xã và 1 thị trấn, trong đó có 14 xã thuộc vùng III, 6 xã là các xã biên giới và xã thuộc vùng căn cứ kháng chiến được hưởng chính sách đặc biệt khó khăn. Toàn huyện có 515 bản trong đó có 128 bản dân tộc Mông. Huyện có 143 km đường biên giới với nước bạn Lào, 4 đồn biên phòng, quản lý 15 cột mốc quốc gia.

Là một huyện vùng sâu, vùng xa, biên giới, đặc biệt khó khăn, địa bàn rộng, địa hình hiểm trở cát cứ, hệ thống chính trị ở xã và các bản nhất là các bản của người Mông chưa thực sự mạnh, trình độ dân trí thấp không đồng đều; cơ sở hạ tầng yếu kém, kinh tế phát triển chậm, tệ nạn nghiện hút, buôn bán vận chuyển ma tuý, di dịch cư tự do, vượt biên trái phép, mâu thuẫn nội bộ diễn ra khá phức tạp. Đặc biệt các hoạt động truyền đạo trái phép và tình hình an ninh biên giới trong những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX và đầu những năm 2000 vẫn diễn biến phức tạp, cá biệt ở một số bản như Hua Lạnh (Nậm Lạnh), Huổi Luông (Mường Lèo) đã tự bầu ra ban chấp sự, tổ chức cầu nguyện tập trung, tổ chức góp quỹ đạo, một số phần tử nhóm họp viết đơn xin phép chính quyền cho thành lập hội thánh tin lành ở Sông Mã.

Bên cạnh đó, kẻ xấu cùng với các thế lực thù địch vừa trực tiếp, vừa thông qua các phương tiện thông tin thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, nói xấu, chia rẽ cán bộ với nhân dân... Chúng liên tục tung tin “Vua Mông” sẽ xuất hiện bên Lào, sẽ thành lập “Vương quốc người Mông” ở Lào, rồi sẽ xảy ra chiến tranh gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong một bộ phận nhân dân. Do không nhận thức được hết đúng sai, nhiều hộ đã bán tài sản, chuẩn bị lương thực, tư trang để sang Lào với hy vọng sẽ được gặp vua Mông, nhận được sự giúp đỡ của vua, để được sống sung sướng... Trong năm 2003, toàn huyện có 127 người Mông ở 17 xã, 40 bản vượt biên sang Lào...

Sau khi có Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 23/4/1994 của Ban Bí thư về một số công tác ở vùng dân tộc Mông, và sự chỉ đạo của tỉnh, cấp uỷ, chính quyền huyện đã tổ chức triển khai thực hiện. Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã đã đề ra 5 giải pháp trọng tâm trong đó chọn giải pháp xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở là đột phá, và đã tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ chặt chẽ, kết quả đạt được đó là:

Hệ thống chính trị ở xã, bản vùng đồng bào Mông đã được tăng cường củng cố; đến nay các bản vùng cao, biên giới các bản đặc biệt khó khăn đều có các tổ chức chính trị xã hội như: Ban mặt trận, Chi hội nông dân, chi hội phụ nữ, chi đoàn thanh niên, chi hội người cao tuổi. Trong cả huyện đã kiện toàn ban công tác mặt trận từ 382 lên 395; chi hội nông dân từ 340 lên 360, kết nạp thêm 1012 hội viên; chi hội phụ nữ từ 383 lên 391, kết nạp thêm 109 hội viên; đoàn thanh niên từ 326 lên 341 cơ sở, kết nạp thêm 910 đoàn viên; Huyện đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ văn hoá, chính trị, pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã và các bản ở vùng đồng bào Mông, kể cả số cán bộ tăng cường xuống cơ sở. Đội ngũ công an bản, y tế bản, văn hoá bản cũng được kiện toàn và đi vào hoạt động có hiệu quả hơn. Công tác phát triển Đảng được quan tâm, đã kết nạp mới 66 đảng viên người Mông, giảm số bản không có đảng viên.

Hoạt động của HĐND, UBND, các cấp từ huyện đến xã đi vào nề nếp, nâng cao được năng lực điều hành, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa cơ sở; Phối hợp tốt với các lực lượng vũ trang trên địa bàn nắm chắc tình hình cơ sở, biên giới, chủ động xây dựng phương án kịp thời đối phó với các tình huống; thường xuyên tổ chức các cuộc giao ban với các huyện các xã bạn Lào có đường biên giới giáp ranh để thống nhất biện pháp quản lý, thực hiện quy chế biên giới, củng cố tình đoàn kết hữu nghị Việt - Lào.

Huyện đã xây dựng Kế hoạch số 20 về thực hiện nếp sống mới ở cơ sở, trọng tâm là vận động nhân dân vùng cao không học và truyền đạo trái phép, chỉ đạo thành lập các tổ công tác gồm các đồng chí trong cấp uỷ, đại diện các đoàn thể chính trị xã hội, Mặt trận Tổ quốc... Các tổ công tác thường xuyên bám nắm cơ sở, cùng sống, cùng làm việc, kết hợp tuyên truyền vận động thực hiện nếp sống văn hoá mới, không tin theo kẻ xấu, không học đạo trái phép, giải thích rõ các chính sách, các quy định của Nhà nước về các hoạt động tôn giáo... Kết quả là đến đầu năm 2003, hai ban chấp sự ở hai bản Hua Lạnh, Huổi Luông đã huỷ cam kết và tự giải tán. Đến nay toàn huyện còn 7 xã, 277 hộ, 1807 người theo đạo trái phép, nhưng hầu hết không còn tổ chức cầu nguyện tập trung, nhiều hộ mong chính quyền đến công nhận đã bỏ đạo để đưa bàn thờ tổ tiên trở lại. Việc di dịch cư tự do ở địa bàn vùng sâu, vùng xa giảm hẳn so với những năm trước đây. Thấy được những khó khăn trong đời sống của đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện nhất là đồng bào Mông, Đảng bộ huyện xác định bên cạnh việc tuyên truyền, thuyết phục, vận động phải thực hiện ngay một số chính sách hỗ trợ để đồng bào thoát khỏi những khó khăn trước mắt; với phương châm: Nhà nước hỗ trợ là chính, bà con tự tổ chức thực hiện, cán bộ huyện, cán bộ xã hướng dẫn, cán bộ bản chỉ huy tổ chức thực hiện. Đã xét cấp hỗ trợ dụng cụ sinh hoạt gia đình, giống cây, con cho các hộ thực sự khó khăn với tổng kinh phí là: 453,45 triệu đồng, hỗ trợ tổ chức thi công 9 tuyến đường dài 96 km đến 10 bản (Chủ yếu là nâng cấp để xe máy đi lại thuận tiện), lắp đặt trạm thu truyền hình cho 10 bản, cấp bổ sung 10 túi thuốc cho y tế bản, với giá trị 500.000 đồng/bản, chi hỗ trợ xăng dầu ban đầu cho các trạm thu phát truyền hình 1 triệu đồng/bản, chi 17,45 triệu trợ cấp sinh hoạt phí cho các đoàn thể ở bản (ngoài trưởng bản, bí thư chi bộ, công an viên, y tế bản).

Năm 2004, huyện Sông Mã đã hỗ trợ cho 46 bản (có 10 bản thực hiện tiếp của năm 2003), gồm các chương trình: Hỗ trợ 241 triệu đồng, để mở mới và nâng cấp 28 tuyến đường với 145,6km; xây dựng mới 23 công trình nước sạch cho 23 bản, 20 công trình nhà văn hoá kết hợp với lớp học cắm bản; hỗ trợ 240 triệu đồng xây dựng nương định canh; 150 triệu đồng làm ruộng bậc thang, 318 triệu đồng mua bò giống cho các hộ quá nghèo, hỗ trợ 160 bồn nước cho các hộ ở các bản vùng cao, vùng sâu không có điều kiện xây dựng các công trình nước sạch, hỗ trợ tấm lợp cho 65 hộ còn ở nhà rách nát, hỗ trợ đồ dùng sinh hoạt cho 125 hộ đặc biệt khó khăn... Ngoài ra còn kết hợp nguồn vốn của các chương trình như 925, 135, hỗ trợ các dân tộc đặc biệt khó khăn và tài trợ của các tổ chức, các nhà tài trợ... để giải quyết các khó khăn cho đồng bào vùng cao.

Là địa bàn trọng điểm xung yếu, Đảng bộ huyện Sông Mã xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của địa phương là phải bảo vệ được ổn định chính trị, giữ vững được an ninh biên giới, làm thất bại mọi âm mưu “DBHB-BLLĐ” của các thế lực thù địch phản động. Các đội công tác cơ sở bám từng bản, từng hộ tuyên truyền, vận động nhân dân không nghe theo kẻ xấu, không  vượt biên trái phép, không bán tài sản, trâu, bò, đất đai để di cư theo kẻ xấu. Tháng 8 năm 2003, thực hiện Chỉ thị số 33 của ban Thường Vụ Tỉnh uỷ Sơn La, huyện đã tổ chức 137 tổ công tác liên hợp, gồm cán bộ huyện, xã, công an, biên phòng, xuống 137 bản dân tộc Mông, vùng cao, biên giới trong huyện để vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh ở xã, ở bản. Ban Thường vụ huyện uỷ có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, bổ sung các nội dung vận động gửi đến các tổ công tác, phân công thường trực huyện uỷ nắm và xử lý kịp thời các tình huống xảy ra.

Huyện đã tổ chức hội nghị vùng cao, mời 146 già bản, trưởng bản của 138 bản dân tộc Mông của huyện đến dự. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào vùng cao nói chung và đối với đồng bào Mông nói riêng được phổ biến đầy đủ. Nhiều địa phương tiêu biểu và già bản, trưởng bản gương mẫu trong chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở bản, vận động nhân dân thực hiện tốt luật pháp của Nhà nước được biểu dương, khen thưởng.

Huyện uỷ còn chỉ đạo Hội phụ nữ huyện, xã phối hợp với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể, mặt trận tổ quốc, tổ chức 12 hội nghị tuyên truyền ở các cụm bản của 12 xã, 63 bản, cho 2006 chị em người Mông, vận động chị em không nghe theo kẻ xấu, động viên chồng, con, em... không vượt biên yên tâm sản xuất, làm ăn trên quê hương, bản cũ; tổ chức vận động kết nạp được 113 hội viên mới ở các xã vùng cao biên giới, tổ chức cam kết với 1006 chị, em không học truyền đạo trái phép, không tái trồng cây thuốc phiện.

Do những cố gắng như trên cho nên trong thời gian qua tình hình an ninh chính trị, an ninh biên giới được giữ vững, nhân dân các dân tộc tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, yên tâm sản xuất, xây dựng bản làng.

Qua 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 45 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số công tác ở vùng dân tộc Mông ở huyện Sông Mã tỉnh Sơn La, một số bài học kinh nghiệm được rút ra là.

Một là: Các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp phải nhận thức đúng, thực sự quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên bám sát cơ sở, kiểm tra giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình triển khai thực hiện.

Việc quán triệt Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số công tác ở vùng dân tộc Mông trước hết phải làm thông suốt trong cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên ở cơ sở, tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và hành động, nghiêm túc chấp hành Chỉ thị và các văn bản hướng dẫn của cơ quan trung ương và địa phương, khắc phục tư tưởng e ngại, chần chừ, né tránh.

Để Chỉ thị thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nề nếp thường xuyên ở cơ sở phải có sự hoà hợp, đồng bộ từ hai phía: Cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó cán bộ, đảng viên đóng vai trò quyết định. Cán bộ, đảng viên không tự giác trong nhận thức, không coi trọng việc triển khai thực hiện có hiệu quả mà chỉ làm qua loa, “đầu voi, đuôi chuột” sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền cơ sở.

Hai là: Kế hoạch thực hiện các nội dung của Chỉ thị phải phù hợp và gắn liền với nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội cùng các hoạt động của địa phương; phải gắn với củng cố, kiện toàn cộng đồng dân cư thôn, bản.

Phải biết kết hợp sức mạnh thống nhất của cả hệ thống chính trị, khơi dậy tinh thần, ý chí tự lực, tự cường trong nhân dân.

Phải kiên trì mềm dẻo trong tuyên truyền thuyết phục nhân dân, thấy rõ vai trò của cán bộ bản, già làng, trưởng dòng họ vùng dân tộc Mông có vị trí rất quan trọng trong việc tổ chức triển khai, thực hiện các chủ trương chính sách ở vùng cao, biên giới; cho nên phải bố trí những người có uy tín, hiểu được đúng chủ trương chính sách tham gia đội ngũ này, và phải có chính sách hỗ trợ kịp thời.

Thường xuyên chăm lo đời sống nhân dân, giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, các đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Kiên trì giải thích để nhân dân thấy rõ quyền lợi và trách nhiệm, thực hiện dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, chấp hành pháp luật của Nhà nước. Ngăn ngừa, xử lý kịp thời các biểu hiện hình thức, cực đoan cùng những hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây rối.

Ba là: Phải chăm lo việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức là người Mông; chú trọng thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, cán bộ xã, phường, thị trấn và già làng, trưởng bản đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc Mông; tạo điều kiện cho người dân được thực hiện quyền làm chủ của mình.

Bốn là: Cán bộ Đảng, chính quyền và các đoàn thể phải thực sự tin dân, tôn trọng dân, lắng nghe dân, thành khẩn với dân, làm cho dân hiểu, thông cảm, tạo ra sự gắn bó giữa dân với Đảng, với chính quyền cơ sở; tạo mọi điều kiện để dân cùng với Đảng, với chính quyền bàn việc làng, việc nước và cùng tháo gỡ khó khăn phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội từ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc Mông. 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,466,905


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs