Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 24/03/2005
Hà Giang đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở

Mai Ngọc Hướng

Phó trưởng ban Dân tộc - Tôn giáo tỉnh Hà Giang

 

Hà Giang là tỉnh miền núi vùng cao biên giới cực bắc của Tổ quốc, được tái lập từ tháng 10/1991, có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2; phía Bắc và Tây giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, với đường biên giới quốc gia dài 274 km; phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang có 10 huyện, thị xã (có 7/10 huyện thị là huyện biên giới) có 191 xã phường, thị trấn, trong đó có 142/191 xã đặc biệt khó khăn. Dân số toàn tỉnh đến năm 2001 là 632.541 người, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm gần 90% dân số toàn tỉnh với 22 dân tộc anh em. Trong đó đông nhất là dân tộc Mông 194.438 người chiếm 30,75% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Tày 157.757 người (24,94%); dân tộc Dao 95.909 người; dân tộc Nùng 61.312 người (9,69%)... Còn lại là các dân tộc anh em khác.

Sau nhiều năm thực hiện các nghị quyết của T.Ư nhất là Nghị quyết T.Ư 5 và Nghị quyết T.Ư 7 (khoá IX), tình hình KT-XH của tỉnh có bước phát triển, hệ thống chính trị nhất là ở cơ sở được đổi mới, kiện toàn, củng cố.

Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Hà Giang, nhất là các xã đặc biệt khó khăn đã được kiện toàn, củng cố và nâng cao một bước, trên cơ sở trẻ hoá đội ngũ cán bộ, tăng cường bồi dưỡng, đào tạo nâng cao về trình độ lý luận, chuyên môn và quản lý nhà nước, nâng cao trình độ văn hoá của cán bộ, đảng viên. Đến nay không có tình trạng lãnh đạo xã không biết chữ, đảng viên trình độ lớp 1, lớp 2.

Do có đội ngũ cán bộ tăng cường, việc duy trì nề nếp làm việc ở cấp xã tốt hơn, trình độ lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ xã được nâng lên một bước, chủ động và tự tin hơn.

Việc xoá thôn bản “trắng” đảng viên và thành lập chi bộ thôn, bản có ý nghĩa rất lớn, đó là hạt nhân chính trị lãnh đạo, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân (trước đây chi bộ ghép từ 2-3 thôn, xa nhau nên sinh hoạt khó khăn). Việc phát triển đảng viên trẻ, có trình độ văn hoá, chuyên môn tạo được khí thế mới trong mọi hoạt động ở địa phương.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số bất cập cả trước mắt và lâu dài, cần phải được xem xét giải quyết đó là:

Đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản nhìn chung trình độ văn hoá thấp, không có trình độ chuyên môn, nhất là trên các lĩnh vực như nông - lâm nghiệp, giao thông, xây dựng - thuỷ lợi, tài chính - kế toán... nên việc lãnh đạo, điều hành, phát triển KT-XH, xây dựng kế hoạch công tác... còn nhiều bất cập. Trưởng thôn, Bí thư chi bộ cơ sở không được đào tạo hệ thống, bài bản. Chế độ sinh hoạt phí quá thấp, từ 40.000- 80.000 đ/tháng.

Hiện nay trong tỉnh cán bộ các dân tộc thiểu số so với tỷ lệ dân số của dân tộc mới có 8,9%; cán bộ, công chức dân tộc thiểu số so với cán bộ, công chức toàn tỉnh mới chiếm 34,21%. Cán bộ các dân tộc Mông, Dao, Giáy, Nùng ở cấp tỉnh còn ít; một số dân tộc không có hoặc có ít cán bộ, công chức ở cấp huyện như: Pà Thẻn, Phù Lá, Cờ Lao... Việc tạo nguồn đội ngũ cán bộ các dân tộc còn chắp vá; chưa theo dõi và nắm được số học sinh đã tốt nghiệp các trường Dân tộc nội trú hiện làm gì, ở đâu; hàng năm số lượng học sinh cử tuyển đều đảm bảo. Nhưng học sinh cử tuyển đi học đại học, cao đẳng học xong công tác ở đâu, không ai quản lý, nên cán bộ thiếu vẫn hoàn thiếu.

Chính sách ưu đãi đối với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, nhất là ở cấp xã, thôn, bản còn chưa đáp ứng yêu cầu. Cán bộ công chức ở các cấp, các ngành là người dân tộc thiểu số chưa được ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng về mọi mặt, tất cả phụ thuộc vào người đứng đầu cơ quan đó có quan tâm hay không. Hiện chưa có cơ chế nào ràng buộc, chỉ đạo vấn đề này.

Mấy năm qua, trụ sở xã đã được xây dựng 2 tầng ở gần 100% số xã, nhưng còn nhỏ, hẹp, không đủ phòng bố trí cho cán bộ làm việc, nhất là khối đoàn thể; không có nhà lưu trú cho cán bộ trực hoặc cán bộ tăng cường, cán bộ khuyến nông, sinh viên tình nguyện... có nơi không có bàn làm việc cho sinh viên tình nguyện. Tỉnh hiện còn hơn 60 xã chưa có điện thoại, việc thông tin 2 chiều hạn chế.

Từ những đặc điểm về KT-XH và văn hoá tộc người cũng như tình trạng hệ thống chính trị cơ sở của tỉnh Hà Giang hiện nay, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất: Tổ chức tốt việc học tập, quán triệt Nghị quyết T.Ư 5 và 7 (khoá IX) cho cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc; các cấp uỷ, chính quyền, các đơn vị phải xây dựng chương trình hành động cụ thể để thực hiện. Hiện nhiều nơi tổ chức học tập còn nặng về hình thức...

Thứ hai: Phải xây dựng được quy chế làm việc của cấp uỷ, phân công rõ từng chức danh, mối quan hệ công tác với chi bộ cơ sở, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, có lịch trình thời gian làm việc cụ thể... có Nghị quyết lãnh đạo phát triển KT-XH, AN-QP của xã 1 năm và 5 năm.

HĐND, UBND, các ngành chuyên môn phải biết cụ thể hoá Nghị quyết của cấp uỷ cấp trên và của cấp mình... Nâng cao vai trò của các đại biểu HĐND xã thông qua các kỳ họp và qua việc giám sát, kiểm tra đối với các thành viên UBND xã, tổ chức chất vấn đối với các thành viên UBND tại kỳ họp...

Bố trí Bí thư chi bộ và Trưởng thôn có uy tín với dân, trẻ, năng động, có trình độ văn hoá đủ sức tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ.

Thứ ba: Xây dựng chính sách ưu đãi, thu hút, tạo động lực cho bộ máy và cán bộ hoạt động hiệu quả. Đây là vấn đề cốt lõi của hệ thống chính trị. Đầu tư thích đáng cho giáo dục ở địa phương, ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục mầm non ở thôn, bản và mở lớp bán trú dân nuôi tại xã. Đây đang là vấn đề khó khăn của địa phương.

Hàng năm có quy hoạch cán bộ ngắn hạn 5 năm và dài hạn từ 10 năm trở lên. Quy hoạch phải gắn với bố trí sử dụng hợp lý để thử thách, tạo điều kiện phát triển cán bộ dân tộc thiểu số...

Có chính sách ưu tiên trong đào tạo, tuyển dụng và thu hút cán bộ giỏi về công tác ở vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều khó khăn. Tiếp tục mở rộng chỉ tiêu tuyển đào tạo ở các trường nội trú đối với vùng thấp từ cấp II, huyện vùng cao (phụ cấp khu vực từ 0,7% trở lên) thì mở trường nội trú khu vực ở các trung tâm cụm xã từ cấp I. Tỉnh nên mở trường nội trú cấp III, ngoài trường tỉnh nên mở trường nội trú ở khu vực như Yên Minh (vùng cao phía Bắc), Hoàng Su Phì (vùng cao phía Tây)...

Cán bộ xã, thôn, bản phải được đào tạo chuyên môn từ trung cấp trở lên đối với vùng cao; cao đẳng, đại học đối với vùng thấp.

Thứ tư: Đảng uỷ xã phải đổi mới trong họp BCH, chuẩn bị kỹ những nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu về KT-XH... để bàn và ra nghị quyết lãnh đạo ngắn gọn, cụ thể; đổi mới sinh hoạt chi bộ ở thôn, bản, ngoài kiểm điểm công tác trong tháng, quý, 6 tháng, năm, cần bàn kỹ phương hướng lãnh đạo của tháng tới, quý tới. Nên lồng ghép thông tin thời sự, chính sách mới, gắn với kế hoạch phát triển của thôn, bản...

Thứ năm: Tăng cường khối đoàn kết các dân tộc trên cơ sở thường xuyên quán triệt chính sách của Đảng, Nhà nước tới mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Từ đó xây dựng đội ngũ cán bộ có sự hài hoà, xen kẽ giữa các dân tộc; tuỳ theo thành phần dân tộc cụ thể ở xã, thôn, bản để bố trí hợp lý trong cơ cấu đại biểu HĐND xã, trong cấp uỷ, UBND và thôn, bản...

Thứ sáu: Đầu tư cho cấp xã, thôn, bản có trụ sở, đủ tiện nghi làm việc, các thiết bị văn phòng, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt... Đội ngũ cán bộ văn phòng cấp xã phải được đào tạo chuyên môn văn phòng, có trình độ tổng hợp, tham mưu, đề xuất giúp cấp uỷ, chính quyền, đáp ứng yêu cầu công việc của địa phương. 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,884,404


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs