Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Vấn đề giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản


Huyện Bảo Thắng có hàng trăm mô hình sản xuất nông lâm kết hợp trên đất đồi núi đạt hiệu quả kinh tế cao. Tiêu biểu là mô hình của anh Lã Mạnh Thuấn ở xã Xuân Giao trồng 2 ha rừng mỡ, quế và

Vũ Long

 

Thực hiện chủ trương đổi mới trong quản lý lâm nghiệp, vấn đề xã hội hoá lâm nghiệp đã được đẩy mạnh thông qua thực hiện chính sách giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, tạo cơ sở để người dân sở tại tham gia vào quản lý rừng và hưởng lợi từ rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống gắn bó với rừng từ lâu đời. Đến 2002 Nhà nước đã giao cho hàng triệu hộ gia đình, cá nhân và tập thể với diện tích 2.738.917 ha rừng, chiếm 23,30% diện tích rừng toàn quốc và 2 triệu ha đất trống đồi núi trọc, chiếm tỷ lệ 27,20%, tổng diện tích đất trống đồi núi trọc. Trên cơ sở rừng và đất lâm nghiệp được giao, dân đã tham gia tích cực vào Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và nhiều dự án trồng rừng, bảo vệ rừng do một số tổ chức quốc tế tài trợ, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn quốc tính đến cuối năm 2002 là 35,8%.

Trong diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho dân, diện tích được giao cho tập thể chiếm một diện tích đáng kể. Theo thống kê ban đầu ở 23 tỉnh diện tích đất lâm nghiệp giao cho tập thể là 1.197.961 ha, chiếm 25,46% tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho dân. Tập thể này gồm cộng đồng dân cư thôn bản, các tổ chức đoàn thể quần chúng cơ sở ở nông thôn như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội CCB, HTX nông nghiệp, Trường học... Qua điều tra ở 3 huyện của tỉnh Cao Bằng (2000) tại huyện Quảng Uyên và Nguyên Bình thì 100% là rừng thôn bản, còn ở huyện Thông Nông rừng thôn bản chiếm tỷ lệ 91,50%. Như vậy có thể rút ra nhận xét: Rừng của cộng đồng thôn bản chiếm vị trí thứ 2 sau rừng hộ gia đình (nhiều địa phương đứng vị trí thứ nhất). Rừng của cộng đồng dân cư thôn bản là loại hình phổ biến trong nông thôn, đặc biệt là ở miền núi phía Bắc tỷ lệ số xã có rừng cộng đồng thôn bản là 34,92%. Những tỉnh có tỷ lệ cao là: Cao Bằng 80%, Hoà Bình 78,77%, Lai Châu 75,32%, Hà Giang 70,10%. Rừng cộng đồng dân cư thôn bản tồn tại rất phổ biến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh nào có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao thì tỷ lệ số xã có rừng cộng đồng dân cư thôn bản cao.

Thực tiễn như vậy. Nhưng trong thập kỷ gần đây về cơ sở pháp lý của việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn bản được bàn luận rất nhiều giữa các nhà thiết kế chính sách và các nhà khoa học, nhà quản lý. Đến nay, theo Luật Đất đai năm 2003, cộng đồng dân cư thôn bản cũng là một đối tượng được Nhà nước giao đất nông nghiệp, với các quyền và nghĩa vụ cụ thể:

- “Cộng đồng dân cư người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có cùng chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất” (Điều 9, khoản 3); “Giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất” (Điều 32, khoản 7); “Thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài” (Điều 66 khoản 2);  “Đất được nhà nước giao cho cộng đồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số”, “cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ diện tích đất được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, không được chuyển sang mục đích khác”; Và, “cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất, không được thế chấp bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất” (Điều 117, khoản 2).

Trong dự thảo sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng (đang trình Quốc hội thông qua), đối với cộng đồng dân cư thôn bản, việc giao rừng cũng được sửa đổi tương tự như Luật Đất đai.

Tại diễn đàn Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng nổi lên vấn đề: không phải bất kỳ cộng đồng dân cư thôn bản nào cũng được giao đất giao rừng, cần phải có những điều kiện nhất định mới được giao.

Về những điều kiện để cộng đồng dân cư thôn bản được giao rừng và đất nông nghiệp theo chúng tôi có điều kiện khách quan và chủ quan.

Điều kiện khách quan đó là:

- Trên địa vực thôn bản có rừng và đất lâm nghiệp chưa giao cho các chủ sử dụng là hộ gia đình, cá nhân. (Nhà nước đang rà soát lại diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các tổ chức lâm nghiệp nhà nước để thu hồi lại một phần diện tích sử dụng không hiệu quả để giao lại cho dân).

- Hiện có một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp cộng đồng dân cư thôn bản tự xác lập quyền quản lý cộng đồng của riêng từng thôn bản hay liên thôn, bản; không có sự tranh chấp với các hộ gia đình trong thành viên cộng đồng hoặc với cộng đồng láng giềng nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền chính thức giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất và rừng.

- Rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ gia đình theo chính sách đất đai, nhưng nay các hộ gia đình không có điều kiện bảo vệ có hiệu quả, tự nguyện nhường lại cho cộng đồng thôn bản quản lý, sử dụng (bằng văn bản của từng hộ gia đình hoặc biên bản hội nghị các thành viên cộng đồng, có xác nhận của UBND xã, không cần phải làm thủ tục thu hồi và giao đất).

Còn điều kiện chủ quan của cộng đồng dân cư thôn, bản gồm:

- Cộng đồng các dân tộc thiểu số, có tập quán quản lý đất đai, tài nguyên theo cộng đồng; có tập tục sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cộng đồng có liên quan đến rừng.

- Phần lớn các thành viên cộng đồng có nguyện vọng được khôi phục hay xác lập mới các khu rừng cộng đồng thôn, bản theo tập quán để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, phòng hộ cho đời sống và sản xuất và nhu cầu lâm sản cho cộng đồng;

- Có trưởng thôn, bản được dân bầu và được Chủ tịch UBND xã công nhận; có già làng được nhân dân tín nhiệm (đối với những dân tộc có tập quán).

Còn đối tượng rừng và đất lâm nghiệp ưu tiên giao cho hộ cộng đồng dân cư thôn, bản là: Các khu rừng gắn liền với tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số, như rừng thờ thổ thần, rừng thiêng, rừng ma...; Các khu rừng mó nước (cốc bó), rừng đầu ngọn suối cung cấp nước sinh hoạt sản xuất cho cộng đồng thôn bản, chòm xóm; những khu rừng phòng hộ các khu dân cư, sản xuất. Các khu rừng cung cấp lâm sản gia dụng đã được xác lập theo tập quán, những khu rừng già, những chòm cây cổ thụ còn sót lại trong địa vực thôn bản không thể giao đều, bảo đảm công bằng cho các hộ thành viên cộng đồng, để đáp ứng một phần nhu cầu lâm sản công cộng, có tính chất cộng đồng và hỗ trợ nhu cầu lâm sản thiết yếu cho các thành viên cộng đồng. Các khu rừng ở xa khu dân cư, địa hình hiểm trở hộ gia đình không muốn nhận vì không có đủ điều kiện để bảo vệ hoặc có nguy cơ cao về xâm hại rừng: khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rẫy (những khu rừng giáp ranh giữa các xã, huyện). Thông thường các khu rừng và đất lâm nghiệp này được thống kê là loại đất chưa sử dụng, chưa giao cho chủ sử dụng, do UBND xã quản lý theo phân cấp về quản lý rừng của Chính phủ.

Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2003 và Luật BV&PTR khi Quốc hội thông qua và ban hành, được tổ chức thực hiện, diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao và được công nhận quyền sử dụng cho cộng đồng thôn bản sẽ tăng lên, nhất là ở các tỉnh phía Nam - nơi công tác giao đất giao rừng cho dân còn rất chậm. Đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Trường Sơn và Tây Nguyên vốn có truyền thống quản lý tài nguyên theo cộng đồng, hiện còn lưu giữ trong luật tục được phát huy. Và hiện có nhiều tổ chức quốc tế đã và đang muốn tài trợ cho các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng như Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà, Dự án xoá đói giảm nghèo miền Trung và Tây Nguyên của ADB đó là những thuận lợi. Từ thực tế, chúng tôi nhận thấy có một xu hướng muốn khuyến khích đẩy mạnh phát triển rừng cộng đồng, hạn chế giao đất giao rừng cho hộ gia đình. Cho rằng giao đất giao rừng cho hộ gia đình tạo ra sự manh mún của đơn vị kinh doanh, rừng cộng đồng có quy mô lớn hơn thuận lợi cho việc tổ chức kinh doanh và quản lý rừng. Song nếu đối lập rừng cộng đồng và rừng hộ gia đình là không đúng với thực tiễn Việt Nam. Hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong kinh tế nông nghiệp và nông thôn, cần phải được tăng cường và củng cố, trước hết bằng việc giao đất nông lâm nghiệp đủ cho hộ sản xuất. Con đường đi lên của kinh tế hộ là HTX sản xuất kể cả nông và lâm nghiệp. Rừng cộng đồng của dân cư thôn bản có chức năng riêng, phù hợp với tính chất của tổ chức xã hội của cộng đồng dân cư. Biến tổ chức cộng đồng dân cư thôn bản thành một tổ chức kinh tế (riêng về lâm nghiệp) là không thích hợp với các thể chế kinh tế hiện nay nhất là với quyền rất hạn chế của cộng đồng dân cư thôn bản đối với rừng và đất được giao. Bên cạnh đó còn là những thách thức của sự cạnh tranh về hiệu quả quản lý, sử dụng rừng giữa rừng cộng đồng thôn bản với rừng hộ gia đình ngay trong chính cộng đồng. Ngoại trừ rừng thiêng, rừng nguồn nước được bảo vệ nghiêm ngặt để phục vụ lợi ích phi hàng hoá cho toàn cộng đồng sẽ không có sự cạnh tranh, còn các khu rừng khác của cộng đồng sẽ bị cạnh tranh về hiệu quả sử dụng rừng với hộ gia đình vì mục đích kinh tế. Quản lý rừng cộng đồng tỏ rõ ưu thế về mặt bảo vệ rừng so với hộ gia đình vì sử dụng sức mạnh toàn cộng đồng và luật tục truyền thống; nhưng lại thiếu và khó huy động nguồn lực để phát triển diện tích và nâng cao chất lượng rừng cộng đồng. Nếu hiệu quả sử dụng rừng cộng đồng thấp sẽ kém sức hút các thành viên cộng đồng tham gia quản lý. Cộng đồng không có quyền thế chấp để vay vốn để bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng như hộ gia đình, vì vậy chỉ trông chờ vào nguồn nội lực rất hạn chế và sự hỗ trợ của Nhà nước và quốc tế. Dường như kinh tế không phải là động lực chính cho phát triển rừng cộng đồng.

Nếu không quản tốt, không minh bạch rừng cộng đồng sẽ không phục vụ được lợi ích chung toàn cộng đồng, mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích của một nhóm người nắm quyền lực trong thôn bản, như vậy sẽ làm suy yếu sự tham gia của người dân vào quản lý rừng, làm suy yếu, biến chất lâm nghiệp cộng đồng. Nâng cao năng lực quản lý của lãnh đạo cộng đồng ở thôn bản và sự giám sát của Kiểm lâm xã có vị trí quan trọng trong việc củng cố kiện toàn lâm nghiệp cộng đồng.  

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,140


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs