Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2005
Vai trò của trưởng họ, trưởng bản trong việc xây dựng đời sống văn hoá và giữ gìn phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mông

TS. Hà Đình Thành - NCS. Đặng Thị Hoa

(Viện Dân tộc học)

 

Người Mông ở Việt Nam là một trong những dân tộc sinh sống sớm nhất ở vùng núi cao. Lịch sử thiên di của người Mông vào Việt Nam gắn liền với quá trình tìm nơi sinh sống ổn định. Theo các nhà Dân tộc học, có 3 đợt thiên di lớn của người Mông vào Việt Nam. Đợt di cư đầu tiên của khoảng 80 gia đình người Mông đến Hà Giang vào khoảng cuối thế kỷ 18. Đợt thứ hai và ba diễn ra vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Tốc độ tăng trưởng dân số của người Mông cao nhất trong số 54 dân tộc trong cả nước. Theo Tổng điều tra dân số (năm 1960) người Mông có 219.514 người, đến (năm 1989) có 558.053 người. Trong những năm từ 1960 - 1974 tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 4,21%, những  năm từ 1974 - 1989 là 3,57%. Địa bàn cư trú của người Mông từ 400 xã năm 1960 đã tăng lên trên 800 xã năm 1989 chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thanh Hoá, Hoà Bình, Thái Nguyên và Lạng Sơn.

Đến năm 1999 cũng theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, người Mông ở nước ta là 787.604 người sống tập trung đông nhất ở các tỉnh Hà Giang (183.994 người), Điện Biên, Lai Châu (170.490 người); Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An... Khu vực cư trú của người Mông đã mở rộng thêm ở một số tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên như: Đắk Lắk (10.891 người) Lâm Đồng (1.009 người), Gia Lai (486 người).

Với người Mông vai trò dòng họ có vị trí quan trọng trong đời sống tộc người. Vị trí của người trưởng họ rất quan trọng trong các sinh hoạt của dòng họ. Các thành  viên trong dòng họ có trách nhiệm giúp đỡ, bảo vệ nhau, đề cao quan hệ huyết thống. Gia đình người Mông theo chế độ phụ hệ đặc trưng, người đàn ông làm chủ gia đình và là đại diện giao tiếp với xã hội. Người phụ nữ khi đã về nhà chồng thì trở thành “ma” của nhà chồng, không được phép sinh con hay chết trong nhà của bố mẹ đẻ. Con gái không được quyền thừa kế tài sản. Do vậy người Mông thường có tâm lý phải sinh được con trai để khi cha mẹ già yếu có người chăm sóc, nuôi dưỡng.

Dòng họ trong quan niệm của người Mông được xác định không chỉ là những người có cùng quan hệ huyết thống mà phải là những người “đrus sênhv, đrus đang” có nghĩa là phải cùng họ, cùng ma. Cùng họ có nghĩa là phải cùng tên họ như các họ Vàng, Giàng, Sùng, Thào,... và cùng ma có nghĩa là cùng những nghi lễ trong quá trình thờ cúng ma. Ví như trong các nghi lễ cúng ma quan trọng như ma buồng, ma bếp,... những người cùng họ đều có những lễ vật cúng như nhau, cách gọi ma như nhau. Chính vì vậy, những người cùng họ không nhất thiết chỉ là những người thân thuộc có quan hệ họ hàng mà có thể ở những nơi rất xa thậm chí chưa hề quen biết nhau nhưng khi tìm hiểu có cùng những nghi lễ cúng thì họ có thể nhận là họ hàng của nhau và xem như  anh em thân thiết trong gia đình.

Đứng đầu dòng họ là trưởng dòng họ gọi là hâuz pâus. Người được chọn làm Hâuz pâus phải là những người có đạo đức, có uy tín trong dòng họ, và cũng là người có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, giỏi tổ chức săn bắn, thạo nghề rèn, am hiểu các nghi lễ kiêng kỵ riêng của dòng họ, nắm chắc phong tục tập quán. Người trưởng dòng họ này thường là người ra quyết định việc tổ chức sản xuất của cả dòng họ, hướng dẫn các gia đình tiến hành các nghi lễ thậm chí còn  trực tiếp làm chủ lễ trong các nghi lễ liên quan đến dòng họ và các gia đình trong dòng họ khi có việc ma chay, cưới xin, dựng nhà,... Đặc biệt trong nghi lễ dựng nhà mới, trưởng dòng họ thường là người được lựa chọn dựng cây cột ma vì người Mông quan niệm Trưởng dòng họ là người có uy tín, đức độ và tài giỏi trong làm ăn nên hồn ma trú ngụ ở cột nhà này sẽ phù hộ cho gia đình làm ăn khá giả, con cái khoẻ mạnh. Trưởng dòng họ là người đại diện cho họ giao tiếp với các dòng họ khác và những người đại diện cho cộng đồng làng bản. Trưởng dòng họ thường do các thành viên trong dòng họ họp và bầu ra trong nghi lễ Nzul xuz. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp trưởng dòng họ cũ lựa chọn và đề cử trưởng dòng họ kế nhiệm và xin ý kiến của tất cả các thành viên trong dòng họ. Sau nghi lễ họp họ và bầu trưởng họ, các thành viên trong dòng họ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện theo các hướng dẫn mà trưởng họ mới yêu cầu.

Trưởng dòng họ thường là người được đại diện cho cả dòng họ liên hệ với các cấp chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề liên quan như sản xuất, di chuyển cư. Ông cũng là người thường xuyên được các cấp lãnh đạo địa phương hỏi ý kiến  những vấn đề liên quan đến dòng họ như việc xây dựng gia đình văn hoá, thực hiện nếp sống mới trong các sinh hoạt cưới xin, tang ma. Trưởng dòng họ có thể thay đổi một số nghi lễ trong phong tục cúng ma, cưới xin, tang ma theo sự thống nhất chung của cả dòng họ. Hàng năm trưởng dòng họ thường họp với các chủ gia đình vào dịp cuối năm để xem xét lại các hoạt động của dòng họ trong năm, phân công các gia đình giúp đỡ nhau trong việc làm nhà, cưới xin.

Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Mông, sự thống nhất về mặt tư tưởng tinh thần có giá trị to lớn trong đời sống sinh hoạt của đồng bào. Thông qua vai trò của trưởng dòng họ, các vấn đề được giải quyết một cách thông suốt với xu hướng thống nhất với ý kiến của trưởng họ đưa ra. Sự thống nhất về mặt xã hội của dòng họ còn thể hiện khá rõ ở khu vực cư trú. Mỗi dòng họ thường cư trú thành những khu vực riêng trong mỗi bản, các gia đình thân tộc cư trú liền kề tạo thành từng cụm, thậm chí có những dòng họ lớn chiếm phần lớn trong một bản. Trong những trường hợp di chuyển cư, người Mông thường di chuyển cả dòng họ thậm chí di chuyển cả một bản nhưng chủ yếu vẫn tuân theo sự chỉ đạo của những dòng họ lớn trong bản.

Cộng đồng làng bản người Mông được hình thành từ những cụm gia đình gọi là bản (Jaol). Mỗi Jaol có tên gọi riêng và có những quy ước, quy định riêng. Điểm nổi bật của các bản người Mông là cư trú khá biệt lập so với các tộc người xung quanh. Trong một jaol có người dân tộc khác cư trú xen kẽ thì người Mông thường cư trú thành từng cụm riêng và họ vẫn cho rằng đó là jaol riêng của dân tộc mình.

Đứng đầu của mỗi jaol là Trưởng bản (tsangr jaol). Các Tsangr jaol có nhiệm vụ thực hiện các quy ước chung của bản đã được đề ra và đôn đốc mọi người thực hiện quy ước chung đó. Trước đây, Tsangr jaol được bầu ra theo chế độ luân phiên, cũng có khi căn cứ theo các dòng họ lớn trong jaol để cử ra những người đứng đầu phù hợp. Hiện nay trưởng bản ở vùng người Mông có xu hướng trẻ hoá, họ là những người đã có gia đình, giỏi làm kinh tế, có trình độ hiểu biết, nhanh nhẹn và có khả năng điều hành công việc trong bản. Trưởng bản là người biết ứng xử, biết xin ý kiến của những người già trong bản, các trưởng dòng họ và tập hợp được những người này cùng chung mục đích xây dựng bản làng no ấm, yên vui.

Hiện nay, các chỉ thị, nghị quyết của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương được đưa xuống thôn bản, các thông tin đến với bà con dân bản đều thông qua vai trò của trưởng bản. Trưởng bản là người chịu trách nhiệm soạn thảo các quy ước xây dựng bản làng văn hoá, xây dựng các quy ước nếp sống mới trong bản. Đối với những người dân trong bản thì trưởng bản có thể đại diện cho họ trao đổi, phản hồi lại những thông tin cần thiết với các cấp chính quyền địa phương vì họ cho rằng: “trưởng bản là người am hiểu phong tục tập quán, thành thạo tiếng dân tộc nên trưởng bản nói chúng tôi nghe, hiểu được và biết làm theo”. Khi xây dựng quy ước, hương ước ở vùng người Mông, trưởng bản có vai trò tập hợp ý kiến của những người già, người có uy tín trong bản, các trưởng dòng họ để dựng lên những quy ước, hương ước phù hợp tiến bộ, giữ được những đặc trưng trong phong tục tập quán của từng dòng họ, từng thôn bản. Trong các quy ước được trưởng bản soạn thảo thường cụ thể đến chi tiết những quy định trong các nghi lễ cưới xin, tang ma đồng thời cũng thông qua đó phổ biến các quy định của luật Hôn nhân và gia đình tới từng gia đình trong bản, vận động đồng bào thực hiện nếp sống mới không tảo hôn, không đẻ con sớm, không đẻ dày, đẻ nhiều con,...

Việc vận động đồng bào dân tộc Mông xây dựng đời sống văn hoá mới  thực sự có hiệu quả phải kể đến vai trò của các quy ước thôn bản. Việc soạn thảo các quy ước thôn bản và vai trò điều hành thực hiện của các trưởng bản có vị trí hết sức quan trọng. Trong nhiều năm qua, chúng ta đã tích cực trong cuộc vận động này nhưng trên thực tế còn có sự chồng chéo giữa các ban ngành đoàn thể ở địa phương, do đó việc thực hiện đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Với vai trò của trưởng bản và sự phối hợp của các ban ngành tại địa phương, các quy ước xây dựng nếp sống văn hoá mới được cụ thể hoá phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc ở từng vùng, từng địa phương khác nhau và quá trình thực hiện cũng được đôn đốc, quán xuyến đã mang lại hiệu quả rõ rệt.

Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở vùng người Mông nói chung cần phải có sự phối kết hợp giữa các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể và đặc biệt là vai trò của trưởng dòng họ, trưởng bản. Có sự nỗ lực của những hạt nhân trong cộng đồng thì các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mới có thể tới từng hộ gia đình và thực sự đi vào lòng dân. Trong những năm gần đây, công tác lãnh đạo, chỉ đạo vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở đã thực sự đi vào cuộc sống, tuy nhiên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa nói chung, các địa phương có đồng bào Mông nói riêng, công tác tuyên truyền vận động hiệu quả chưa cao. Chúng ta cần phải khơi dậy niềm tự hào dân tộc, khôi phục và phát triển những phong tục tập quán tốt đẹp để vận động đồng bào đẩy lùi các tệ nạn xã hội như nghiện hút; xoá bỏ những hủ tục lạc hậu như tảo hôn, sinh nhiều con; đẩy mạnh phong trào phát triển kinh tế hộ gia đình… Có như vậy chúng ta mới có thể thực hiện thành công công cuộc vận động đồng bào Mông nói riêng, đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung xây dựng nếp sống văn hoá mới ở các bản làng. 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,912,966


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs