Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay


Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Yên Bái, nơi đao tạo cán bộ cho các xã vùng cao trong tỉnh. Trường có 249 học sinh từ lớp 10 cho đến lớp 12 là con em đồng bào dân tộc Dao ,Mông ,Tày, KhơMú,Sa P

Hà Quế Lâm

Nguyên Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc

Giám đốc TTNC hỗ trợ phát triển DTTS và Miền núi

 

Đào tạo đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số và miền núi là một nhiệm vụ quan trọng trực tiếp quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Bởi vì những cán bộ đó hiểu dân tộc mình hơn ai hết, nắm bắt được phong tục tập quán, tâm lý, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc mình. Những cán bộ đó gắn bó với gia đình, họ hàng và bà con thân thích, với quê hương bản quán và hẳn là có sức cảm hoá đối với đồng bào trong việc tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số tại chỗ đi đôi với chính sách của Đảng và Nhà nước đưa cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cùng nhau góp sức tạo ra các phong trào thi đua yêu nước xây dựng làng bản quê hương ngày càng giàu mạnh. Sự tham gia của cán bộ, công chức các dân tộc thiểu số và miền núi vào đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị là biểu hiện rõ nét nhất trong mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, tạo ra niềm tin tưởng của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước ta.

Theo số liệu điều tra dân số ngày 1/4/1999, số cán bộ được đào tạo qua các trường đại học, cao đẳng của cả nước so với tổng số dân đạt tỷ lệ 1/34. Đối với các tỉnh miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung thành buôn, làng, phum, sóc, xã đạt 1/133, thấp hơn 4 lần so với bình quân của cả nước.

Còn từ thực tế cho thấy cán bộ người dân tộc thiểu số ở cấp huyện, tỉnh và các ngành TW được đào tạo nhiều hơn cán bộ cơ sở. Cán bộ chủ chốt cơ sở chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trong số đó nhiều người là cán bộ nghỉ hưu, bộ đội xuất ngũ đã được rèn luyện thử thách nên có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trong sạch, giản dị quan tâm chăm lo đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đa phần là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Còn mặt hạn chế cơ bản của đội ngũ này là trình độ văn hoá thấp, ít được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, phẩm chất, năng lực so với yêu cầu nhiệm vụ còn có khoảng cách, nhiều người chưa thật nắm vững pháp luật, tư tưởng chưa yên tâm; lề lối làm việc còn mang nặng tính hành chính, không sát thực tế.

Theo điều tra của Ban Tổ chức Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn qua các lớp quản lý nhà nước của cán bộ chủ chốt và cán bộ chuyên môn của các xã dân tộc thiểu số và miền núi kết quả như sau:

- Với 15 tỉnh miền núi phía Bắc:

Cán bộ chủ chốt: Trình độ văn hoá cấp II = 53,6%, cấp III=34,5%; trình độ chuyên môn là trung cấp là 11,6%; trình độ đại học là 1,8%; trình độ chính trị trung cấp là 40,8%; cao cấp 0,8%; học các lớp quản lý nhà nước là 32,3%.

Với cán bộ chuyên môn: Trình độ văn hoá cấp II = 46,2%; cấp III = 40,9%, trình độ trung cấp chuyên môn là 11,1%; đại học 1,8%, trình độ chính trị trung cấp là 7,9%; cao cấp 0,8%, học qua lớp quản lý nhà nước là 11,6%.

- Với 11 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên:

Cán bộ chủ chốt: Trình độ văn hoá cấp II là 42,4%; cấp III là 43,1%; trình độ chuyên môn là trung cấp 6,9%, đại học 2,8%; trình độ chính trị trung cấp là 38,7%; cao cấp 4,0%; học các lớp quản lý nhà nước là 39,1%.

Cán bộ chuyên môn: Trình độ văn hoá cấp II là 33,8%, cấp III là 56%; trình độ chuyên môn: trung cấp 13,1%, đại học 2,0%; trình độ chính trị trung cấp là 7,4%; cao cấp 2,0%; học qua các lớp quản lý nhà nước là 18,3%.

Về cơ cấu, độ tuổi, qua điều tra ở một số địa phương, số dưới 35 tuổi chiếm 21,33%, từ 35 đến 50 tuổi chiếm 52,67%, trên 50 tuổi chiếm 26%.

ở các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của cán bộ cơ sở còn yếu kém hơn nhiều. Qua điều tra của Viện Kinh tế và Phát triển Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2000 tại 20 xã đặc biệt khó khăn của 4 tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La cho thấy: trình độ văn hoá chủ yếu là cấp I, II chiếm 79,17%, điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả công việc của họ đảm nhận. Đại bộ phận cán bộ cấp xã chưa được đào tạo về chuyên môn và quản lý, tính bình quân 4 tỉnh cán bộ xã chưa qua đào tạo chiếm 61,9% đây là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Về tuổi đời từ 31-45 tuổi là 54,76%, tiếp đến là cán bộ trên 46 tuổi. Số liệu trên cho thấy lực lượng thanh niên tham gia vào đội ngũ cán bộ cấp xã chưa nhiều (dưới 16%). Vấn đề đặt ra là phải quan tâm và làm tốt công tác qui hoạch đào tạo, chú trọng bồi dưỡng lực lượng thanh niên ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Một thực tế nữa là tỷ lệ cán bộ hưu trí và bộ đội xuất ngũ tham gia cán bộ cơ sở còn khá đông, nhất là cán bộ mặt trận và các đoàn thể; kiến thức về pháp luật và quản lý tài chính, quản lý nhà nước, quản lý hành chính rất hạn chế, thiếu hụt về kiến thức kinh tế thị trường và quản lý kinh tế. Cán bộ cơ sở nhiều nơi chưa biết xây dựng chương trình kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn và ngắn hạn, chưa biết tính GDP của xã, chưa biết xây dựng các chương trình dự án, thường ỷ lại, trông chờ vào hướng dẫn của trên. Về cuộc sống, thu nhập cán bộ xã còn thấp, đời sống gia đình và bản thân có nhiều khó khăn. Do vậy ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, thái độ và trách nhiệm công tác của người cán bộ cơ sở đối với công việc họ đảm nhận. Nếu thu nhập tương đối khá, đời sống gia đình được ổn định họ sẽ yên tâm đầu tư thời gian sức lực và trí tuệ cho công việc được giao.

Tóm lại cán bộ cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi là khâu yếu nhất hiện nay, số lượng đông nhưng không mạnh, chất lượng hoạt động hiệu quả, hiệu lực quản lý thấp. Hiện nay vẫn còn hơn 70% cán bộ chủ chốt cơ sở chưa được đào tạo cả về văn hoá và chuyên môn. Sau đợt bầu cử hội đồng nhân dân các cấp vừa qua, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước dân tộc thiểu số và miền núi được bầu khoá mới nhất là ở cơ sở số cần được đào tạo rất lớn. Do vậy nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là hết sức cấp bách.

Để công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, phải sớm cụ thể hoá Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 7-5 - 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giai đoạn 2001-2005 và Quyết định số 122/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết TW7 Khoá IX về công tác dân tộc thành chính sách cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số, ưu tiên số 1 là cán bộ phum sóc cơ sở và trưởng thôn bản nhằm tạo ra một sự chuyển biến về chất lượng của công tác cán bộ.

Về nội dung chương trình, thời gian đào tạo bồi dưỡng theo chúng tôi những kiến thức cần thiết ngay đào tạo trước, những kiến thức nâng cao đào tạo bồi dưỡng sau nên đào tạo nhiều lần. Cần xây dựng một giáo trình thật sát nhu cầu của cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng gồm: Lý luận chính trị, Quản lý nhà nước, Kiến thức nông lâm nghiệp, Văn hoá dân tộc và tôn giáo. Có tài liệu bằng tiếng dân tộc.

Về hình thức đào tạo và thời gian học: Dài hạn: 1 năm, 2 năm, 6 tháng. Ngắn hạn: Tại chức, tại chỗ, thời gian nên 4 tháng, 2 tháng. Với các lớp bồi dưỡng: Nên theo chuyên đề, thời gian 2 tuần và 1 tháng, tổ chức ở huyện, có tham quan những mô hình tốt. Kế hoạch đào tạo cần được thông báo trước ngay từ đầu năm.

Về đối tượng đào tạo, bồi dưỡng: Hiện chúng ta đang rất cần cán bộ, nếu chỉ đào tạo cán bộ địa phương, khi luân chuyển cán bộ người dân tộc thiểu số ở các ngành về địa phương lại chưa được đào tạo sẽ là không tốt. Vì vậy, cán bộ công chức dân tộc thiểu số ở các ngành TW và địa phương đều được tham gia đào tạo bồi dưỡng, tuỳ theo nội dung đào tạo mà chiêu sinh cho hợp lý. Đã là dân tộc thiểu số thì ở đâu vẫn là dân tộc thiểu số, dù ở đô thị hay nước ngoài vẫn là dân tộc thiểu số. Với học viên là người Kinh sống lâu năm ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa cũng cần được đào tạo vì đây là đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho vùng dân tộc và miền núi vì sự phát triển của vùng dân tộc và miền núi là thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc.

Về cơ quan đảm nhận đào tạo không chỉ Bộ Nội vụ và Uỷ ban Dân tộc mà có thể mở rộng đến các tổ chức đoàn thể, hội khoa học đảm nhận các lớp chuyên môn. Bộ Nội vụ và UBDT là người duyệt nội dung đào tạo và cấp kinh phí nếu làm như vậy một năm ta có thể cung cấp nhiều kiến thức cho cán bộ công chức dân tộc thiểu số.

Về các giáo trình đào tạo theo tôi trước mắt nên giao cho Học viện hành chính quốc gia và một số trường đại học chuyên ngành biên soạn theo yêu cầu của Bộ Nội vụ và UBDT.

Về chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số: Cần khuyến khích cán bộ công chức đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được tổ chức phân công. Bảo đảm chế độ: ăn, ở, học tập, tham quan và 1 lần (gồm 2 lượt đi và về) đến nơi đào tạo, được như vậy người đi học sẽ rất phấn khởi. Phải có chính sách  đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số chung cho cả nước.

Sau khi ban hành chính sách, chế độ đào tạo cán bộ công chức DTTS từ cơ sở đến các ngành trung ương, đề nghị Trung ương Đảng và Chính phủ tiếp tục triển khai dự án chính sách chế độ đối với khâu tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số. Hiện nay đã có hệ thống trường dân tộc nội trú và bán trú dân nuôi, có chính sách cử tuyển Đại học, Cao đẳng là nguồn đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số nhưng nhìn chung chất lượng chưa cao, đang còn một số vấn đề cần được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Hy vọng thời gian không xa vùng dân tộc thiểu số sẽ có đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số đạt được trình độ chung nhờ có chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,235


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs