Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 31/01/2008
Bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mường Hoà Bình


Chương trình văn nghệ tại lễ bế mạc Ngày hội văn hóa Mường toàn quốc lần thứ nhất.

Trong chính sách văn hoá của Đảng ta hiện nay, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng thành công nền văn hoá Việt Nam đa dạng trong thống nhất, vừa tiên tiến lại đậm đà bản sắc dân tộc.

Hoà Bình nằm trong vùng địa - việc nổi tiếng của các tỉnh miền núi phía Tây Bắc, nơi đây lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, mỗi dân tộc một nét độc đáo riêng, một màu sắc riêng đặc thù, tất cả đã góp phần tạo nên bức tranh văn hoá nghệ thuật phong phú, sinh động, đa sắc thái cho tỉnh Hoà Bình.

 Hoà Bình lại là “tỉnh Mường”, một tỉnh có người Mường tập trung đông đảo nhất và cũng là nơi văn hoá Mường rõ nét nhất, chính vì thế nói đến vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở tỉnh Hoà Bình thì trước hết và tâm điểm của nó phải là văn hoá của dân tộc Mường. Tỉnh Hoà Bình cũng là cái nôi của nền “Văn hoá Hoà Bình” nổi tiếng không những ở khu vực mà trên toàn thế giới. Đó không chỉ là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc trong tỉnh mà còn là niềm tự hào cho cả dân tộc Việt Nam.

 Trong kho vốn quý những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Mường, thì nhà sàn, trang phục nữ Mường, cồng chiêng và trống đồng là những tài sản vô giá.

 Người Mường có tập tục ở nhà sàn từ lâu đời, có thể sau khi bước ra từ những hang động, mái đá để chiếm lĩnh các gò đồi ven suối, cư dân Văn hoá Hoà Bình đã ở nhà sàn, ban đầu là để tránh thú dữ, phù hợp với thiên nhiên vùng rừng núi. Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, tập tục ở nhà sàn đã trở thành một biểu hiện sinh động, đặc sắc của văn hoá vật chất, gắn bó máu thịt với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Mường. Trong cấu trúc truyền thống, nhà sàn Mường là một cấu trúc đa năng, thoả mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình.

 Tuy thế, nhà sàn Mường không chỉ là một giá trị vật chất hiện hữu của mấy ngàn năm lịch sử, mà nó còn là một không gian tinh thần chứa đựng những giá trị nhân sinh, tín ngưỡng, phong tục tập quán lâu đời của nhiều thế học người Mường. Sự phân biệt “nhà ngoài - nhà trong” (giạu ngoài, giạu trong) trong ngôi nhà sàn Mường hoàn toàn mang tính ước lệ song lại được tôn trọng đặc biệt. “Giạu ngoài” bao giờ cũng là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và cũng là chỗ ngồi dành cho người cao tuổi khách quý; nếu là phụ nữ hoặc bậc con cháu, ít tuổi thì chỉ được ngồi ở phần nhà dưới để tỏ sự khiêm tốn và kính trọng gia chủ.

“Giạu trong” là nơi đặt bếp, phần không gian tiếp theo là chỗ dành cho sinh hoạt của phụ nữ, có thể được ngăn thành một hoặc nhiều buồng nhỏ, liên hệ với bên ngoài bằng một cầu thang phụ.

 Như thế, từ không gian bên ngoài đến không gian bên trong ngôi nhà sàn Mường đều là những không gian văn hoá, ở đó giữa cái tiện ích, thực dụng và cái tinh thần thiêng liêng luôn hoà quyện với nhau một cách tự nhiên. Nhà sàn Mường không chỉ là hiện thân của những giá trị vật chất có bề dày lịch sử, mà còn hàm chứa trong lòng nó nhiều giá trị tinh thần đáng trân trọng.

 Cùng với ngôi nhà trang phục nữ Mường có cái chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và của cư dân Đông Nam á. Đó là nguồn gốc thực vật của chất liệu làm ra vải là màu tự nhiên, là tính chất thủ công của nghề dệt truyền thống, sự khéo tay, cần mẫn và óc thẩm mỹ của con người. Một bộ trang phục nữ Mường gồm nhiều yếu tố như: áo, yếm, khăn bịt đầu, thắt lưng (tênh) và váy (gồm hai phần chính là cạp váy và chân váy). Điểm nổi bật nhất trên bộ trang phục nữ Mường chính là cạp váy, được bố cục làm ba phần: rang trên, rang dưới và cao. Trên ba phần này, người Mường đều thể hiện sự mô phỏng một cách sáng tạo cấu trúc và hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, rất tinh tế, cầu kỳ mà không phô trương.

 Về màu sắc, người Mường không ưa những những màu sắc quá chói gắt, rực rỡ; có những bộ phận trong trang phục được quy định thống nhất về màu sắc. Chẳng hạn, váy phải là màu đen hoặc xanh đen, khăn thắt trên đầu phải là màu trắng, không bao giờ người phụ nữ Mường dùng màu khác với tập quán đó. Song không vì thế mà nữ phục Mường rơi vào tẻ nhạt, đơn điệu. Bí quyết này nằm ở cách xử lý tinh tế về màu sắc trên áo ngắn, áo báng, bộ tênh, khăn và nhất là màu sắc, hoa văn trên cạp váy.

 Bộ trang sức của phụ nữ Mường chủ yếu là bằng bạc trắng, chia thành nhiều loại: dây xà tích, hộp quả đào, vuốt hổ bọc bạc, vòng đeo tay, chuỗi hạt cườm...

 Người Mường đã tạo cho mình một trang phục riêng vừa mang những yếu tố chung của các tộc người chung sống trên đất nước mà vừa có nhiều nét riêng vô cùng đặc sắc. Cạp váy Mường không chỉ nói lên óc thẩm mỹ sáng tạo của những người đã dệt nên nó mà còn hàm chứa những giá trị nhân sinh và vũ trụ luận của người Việt cổ. Bởi thế, nữ phục Mường cũng là cầu nối giữa hiện tại với quá khứ của dân tộc.

 Trong xã hội Mường cổ truyền, cồng chiêng có vai trò rất quan trọng, tác động đến nhiều mặt trong đời sống cộng đồng: Tiếng cồng chiêng đem lại không khí vui tươi, rộn ràng, náo nức trong những ngày hội; là không khí trang nghiêm trong các cuộc tế lễ… Ngoài ra tiếng cồng chiêng còn là mệnh lệnh, là lời hiệu triệu dân chúng, là quyền lực của nhà Lang. Tiếng cồng là phương tiện thông tin nhanh, là lời thông báo, là lệnh báo động lâm nguy cho cộng đồng… Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay tỉnh loà Bình có trên 4.000 chiếc cồng chiêng, tập chung ở một số huyện như Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong, Kim Bôi. Trong số đó có rất nhiều bộ cồng chiêng cổ, quý giá. Bên cạnh cồng chiêng Hoà Bình là một trong những tỉnh phát hiện được nhiều trống đồng ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là loại II Heger (trống Mường), loại trống đồng chủ yếu tìm được trên địa bàn cư trú của người Mường ở Việt Nam. Hiện nay trong kho của Bảo tàng Hoà Bình đang lưu giữ trên 70 chiếc trống đồng các loại, trong đó có gần 60 chiếc trống loại II Heger. Chưa kể số trống đồng hiện đang lưu giữ tại kho Công an tỉnh do thu giữ từ những vụ buôn bán cổ vật và những trống hiện còn lưu giữ trong nhân dân.

 Ngoài nét đặc sắc nêu trên, nền văn hoá của dân tộc Mường còn được thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau: sự độc đáo trong ngôn ngữ Mường, những làn điệu dân ca, những áng Mo - Sử thi chân thực và huyền ảo, những lễ hội, trò chơi dân gian, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo lâu đời ... luôn cần được bảo tồn và phát huy.

 Tuy thế, bên cạnh những yếu tố văn hoá tốt đẹp, nền văn hoá dân tộc Mường cũng còn tồn tại nhiều yếu tố lạc hậu, những hủ tục tồn tại trong đời sống xã hội, ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân không dễ dàng loại bỏ ngay được. Ví dụ như việc cưới xin tảo hôn, ép duyên, thách cưới nặng nề, sinh đẻ không có kế hoạch, tục lệ tang ma phiền phức tốn kém, mê tín dị đoan, thói quen để chuồng trại gia súc gần nhà, thậm chí ngay dưới gầm nhà sàn làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường và sức khoẻ cộng đồng.

 Nguyên nhân tồn tại của những hủ tục lạc hậu này bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.

Đó là do trình độ dân trí thấp, nhận thức chưa đầy đủ tác hại của những hủ tục lạc hậu; đời sống của người dân còn quá khó khăn, giáo dục, y tế, thông tin còn kém phát triển ở các vùng sâu, vùng xa; công tác chỉ đạo của các ngành, các cấp chủ yếu mang tính đối phó, xử lý các vụ việc là chính, chưa có giải pháp đồng bộ, chưa có tầm nhìn sâu, rộng và đầu tư kinh phí xứng đáng cho sự nghiệp bảo tồn bản sắc văn hoá và hội nhập phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay và lâu dài.

 Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của cả nước không tránh khỏi những tác động làm biến đổi các giá trị văn hoá. Nền văn hoá của dân tộc Mường cũng không nằm ngoài quy luật chung đó và nó cũng đang biến đổi theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực.

 Về mặt tích cực: Trên lĩnh vực kinh tế đã có những thay đổi trong cung cách làm ăn, đa dạng ngành nghề, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào vào sản xuất nhờ đó đời sống vật .chất của người dân từng bước được nâng cao. Vệ sinh môi trường được quan tâm: Các công trình phụ, chuồng trại đã tách ra khỏi nhà ở, việc giữ gìn nguồn nước đã trở thành trách nhiệm của cả cộng đồng.

 Việc học hành của con em Mường đang được cha mẹ quan tâm, tỷ lệ người không biết chữ đã giảm rõ rệt. Hiện nay phần lớn con em dân tộc Mường đã tốt nghiệp Phổ thông cơ sở. Ngày càng có nhiều con em Mường có trình độ Đại học và trên Đại học. Các lễ hội truyền khống đang được địa phương phục hồi, theo đó nghệ thuật trình diễn, hát dân ca, múa Mường, nhất là cồng chiêng đang được người dân tự giác giữ gìn. Các hủ tục trong tang ma, cưới xin dần được loại bỏ. Cuộc vận động thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ngày càng được đông đảo tầng lớp nhân dân ủng hộ, hưởng ứng. Các món ăn truyền thống đã được nâng lên thành văn hoá ẩm thực, nay đang trở thành đặc sản và được đông đảo du khách yêu thích.

 Về mặt tiêu cực, cuộc sống hiện đại đã khiến cho ngôi nhà sàn đang vắng dần trong những làng xóm của người Mường, ở những vùng sâu, số nhà sàn còn giữ được nhiều hơn, nhưng cũng đã có những thay đổi về kiểu dáng và đa số được thay mái lá cọ, cỏ gianh bằng mái ngói hoặc Proximăng.

 Chỉ còn rất ít người Mường mặc trang phục dân tộc. Các đám cưới của người Mường ít được tổ chức theo nghi thức truyền thống cô dâu, chú rể hầu hết đều mặc âu phục.

 Tiếng Mường và việc sử dụng tiếng Mường trong sinh hoạt hàng ngày đang trong tình trạng báo động. Hầu hết các gia đình Mường cư trú ở thị trấn, thành phố đã không còn sử dụng tiếng Mường để giao tiếp hàng ngày.

 Tâm lí, mặc cảm, tự ti cho rằng văn hoá dân tộc thiểu số là lạc hậu hiện vẫn còn tồn tại trong giới trẻ.

 Từ giá trị, thực trạng, nguyên nhân của những biến đổi văn hoá trên, thiết nghĩ các ngành chức năng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần sớm xây dựng chương trình hành động và có giải pháp tổng thể nhằm bảo tồn bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Mường.

 Trước hết là vấn đề nhận thức: Cần có chương trình phổ cập hoá về giá trị văn hoá Mường tới toàn thể cán bộ, nhân dân trong tỉnh và các tỉnh có người Mường sinh sống.

 Cần đưa vào chương trình phụ khoá trong nhà trường, giới thiệu một số giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc Mường và các dân tộc khác trong tỉnh ở những mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng cấp học.

 Trên tờ báo của tỉnh nên có chuyên mục về di sản văn hoá, ở đó có ưu tiên giới thiệu phổ cập những giá trị văn hoá Mường và văn hoá các dân tộc trong tỉnh.

 Duy trì những lớp huấn luyện ngắn ngày về nghệ thuật cồng chiêng như tỉnh đã và đang làm, nghề truyền thống dệt thổ cẩm (cạp váy Mường) và một số lĩnh vực khác.

 Thứ hai, trong quy chế làng văn hoá, gia đình văn hoá ở vùng đồng bào Mường và các dân tộc khác trong tỉnh, ngoài những điểm chung hoà nhập với cả nước, nên có những nội dung cụ thể gắn với việc giữ gìn bản sắc văn hoá tộc người. Chẳng hạn, quy định về mặc trang phục dân tộc của cô dâu trong ngày cưới; mỗi người đặc biệt là phụ nữ và nữ sinh cần có ít nhất một bộ trang phục dân tộc đẹp để mặc trong ngày lễ hội truyền thống, lễ hội cách mạng, ngày khai giảng, chào cờ đầu tuần và nhiều sinh hoạt khác ở nhà trường, xóm bản; dựng nhà văn hoá xã theo lối kiến trúc nhà sàn truyền thống và phải đưa vào những tiêu chí phấn đấu để được công nhận danh hiệu làng văn hoá.

 Thứ ba, việc mất dần nhà sàn đã và đang diễn ra là khó tránh khỏi song cần có kế hoạch tích cực hơn trong việc bảo tồn nhà sàn trên toàn tỉnh. Tâm lý lớp trẻ và hầu hết người lớn tuổi vẫn nhớ tiếc ngôi nhà sàn truyền thống là một cơ sở tốt cho việc bảo tồn này.

 Cần có kế hoạch ngăn ngừa nạn phá bỏ nhà sàn, bê tông hoá nhà ở tại những xã vùng sâu, vùng xa trong tỉnh. Giáo dục, vận động bà con bảo tồn nhà sàn trên cơ sở giúp họ hiểu được giá trị của nhà sàn và ý nghĩa kinh tế, văn hoá lâu dài của nó.

 Ngoài một số dự án bảo tồn văn hoá trên địa bàn tỉnh hiện nay, mỗi huyện nên chọn một vài xóm bản còn giữ được nhiều nhà sàn để đầu tư giữ gìn, phát triển. Cần có sự giúp đỡ của các chuyên gia nghiên cứu một số vật liệu có thể thay thế cho vật liệu tự nhiên mau hỏng và đang cạn kiệt, nhưng vẫn không làm mất đi bản sắc ngôi nhà Mường; có thể vận động bà con trồng thêm cây cọ lấy lá thay cỏ tranh để lợp nhà.

 Thứ tư, muốn bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc của văn hoá một cách vững chắc, không thể bằng mệnh lệnh hành chính duy lý và cũng không thể dựa vào sự xót xa tiếc nuối trong tình cảm mà phải bằng các chính sách cụ thể, thiết thực để việc bảo tồn đó mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho người dân.
 Thứ năm, từ vị thế của văn hoá Mường trong nền văn hoá Việt Nam, từ ý nghĩa của văn hoá Hoà Bình đối với khu vực Đông Nam á, các nhà quản lý nên mạnh dạn đầu tư có chiều sâu vào một vài làng Mường cổ truyền, trước hết lập dự án đầu tư vào một vài làng điển hình để rút kinh nghiệm, đối với tỉnh Hoà Bình nên tập trung tại những vùng văn hoá cổ trong các Mường nổi tiếng khi xưa (Bi, Vang, Thàng, Động). Tại đây, không chỉ báo tồn nhà sàn truyền thống mà cả những sinh hoạt nông nghiệp cổ truyền khác như máng vò thóc, cối xay lúa, cối giã gạo chày tay, cối giã gạo nhờ sức nước; cơm lam, rượu cần, các món ăn Mường; những dàn cồng chiêng, trống đồng, các làn điệu dân ca Mường, trò chơi dân gian; nghề dệt cổ truyền, đặc biệt dệt cạp váy bằng các nguyên liệu dệt, nhuộm tự nhiên với các hoa văn in trên trống đồng như các loại cạp váy cổ, v.v.

 Với những giải pháp cho công tác bảo tồn vốn văn hoá dân tộc nói chung và bản sắc văn hoá dân tộc Mường nói riêng, hy vọng rằng công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc sẽ đạt được những thành tựu tốt đẹp hơn và bản sắc của văn hoá Mường sẽ ngày càng được tôn vinh, xứng đáng là niềm tự hào cho cả dân tộc Việt Nam.

Hoàng Thị Chiển
Giám đốc Sở VHTT tỉnh Hoà Bình

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,860,062


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs