Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 31/01/2008
Ba năm thực hiện Quyết định 134 kết quả và một số nhiệm vụ trong năm 2008


Nhà được xây dưngk từ Chương trình 134 ở Thạch Thành - Thanh Hóa

Ngày20/7/2004, Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn. Đây là một quyết định quan trọng thể hiện sự nỗ lực và quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là hộ nghèo, đến sự nghiệp xoá đói giảm nghèo vùng dân tộc nói chung và cả nước nói riêng, với tính nhân văn sâu sắc, phát huy bản chất tốt đẹp của cả dân tộc. Quyết định 134 có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện Nghị Quyết Trung ương khoá IX về công tác dân tộc và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết này.

Xác định tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo sát sao, nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành nhằm cụ thể hoá nội dung của Quyết định 134 như: Thông tư liên tịch số 819 hướng dẫn thực hiện Quyết định 134; Thông tư số 121 về việc Hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện Quyết định 134; Quyết định số 146 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao khoán cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.

 Triển khai tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, sau Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Quyết định 134 (tháng 10/2006) với tinh thần cả nước phấn đấu hoàn thành những mục tiêu cơ bản của Chương trình vào năm 2008, các Bộ, ngành đã rất tích cực trong công tác phối hợp, tham mưu Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo các địa phương xử lý, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc.

 Uỷ ban Dân tộc đã chủ trì rà soát, tổng hợp, thống nhất kế hoạch ngân sách hỗ trợ cho các địa phương thực hiện Quyết định 134 cả giai đoạn 2005-2008, trình Thủ tướng Chính phủ về việc nâng mức hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt và hỗ trợ vốn đối ứng cho các địa phương khó khăn về ngân sách và ban hành quyết định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg; phối hợp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra văn bản số 45 Hướng dẫn về việc phối hợp thực hiện chương trình xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số.

 Chính quyền các cấp đều xác định rõ mục tiêu chính trị quan trọng của Quyết định 134, tập trung nỗ lực trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; kiểm tra, đôn đốc sát sao, cụ thể. Tỉnh uỷ Cao Bằng, Nghệ An, Bình Phước... có những cuộc họp chuyên đề và ra Nghị quyết riêng về việc chỉ đạo thực hiện Quyết định 134. Hội đồng nhân dân cũng làm tốt vai trò giám sát việc thực hiện chính sách.

 Về ngân sách thực hiện: Tổng nhu cầu kinh phí được xác định theo kết quả rà soát trình Thủ tướng Chính phủ năm 2006 là 3.929 tỷ đồng. Số kinh phí bố trí cho các địa phương đến hết năm 2007 là 3.004,79/3.929,56 tỷ đồng, đạt 76% so với số dự kiến phương án tổng thể.

 Trên cơ sở kinh phí Trung ương cấp trong ba năm 2005-2007, các địa phương đã phân bổ cho nội dung đất ở 10,422 tỷ, đất sản xuất 152,424 tỷ, nhà ở 1.821,46 tỷ, nước sinh hoạt phân tán 86,945 tỷ, công trình nước 1.141,34 tỷ. Nguồn vốn đối ứng, lồng ghép của các địa phương tổng cộng là 641,31 tỷ đồng.

 Nhiều địa phương đã tích cực, chủ động vận dụng nhiều giải pháp tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể để huy động được nguồn lực cộng đồng, dòng họ hỗ trợ làm nhà, san nhượng đất ở, đất sản xuất, xây dựng các công trình nước sinh hoạt. Sau 3 năm triển khai đã đạt được những kết quả đáng kể.

 Về nhà ở: Đây là mục tiêu ưu tiên của nhiều địa phương, đến hết 2007, cả nước hoàn thành việc hỗ trợ 330.293 nhà, đạt tỷ lệ 89%. Cao nhất là khu vực Đông Bắc, tiếp theo là Tây Nguyên, thấp nhất là Bắc Trung bộ và Đông Nam Bộ. Phân loại mức độ hoàn thành trong tổng số 54 tỉnh, theo con số kế hoạch ban đầu có 33 tỉnh hoàn thành 100% (riêng Lạng Sơn 172%), 15 tỉnh trên 80%, 6 tỉnh dưới 80%. Qua kiểm tra cho thấy qui mô và chất lượng nhà ở tương đối chắc chắn, phù hợp điều kiện đời sống thực tế tại địa phương, đảm bảo 3 cứng: khung, mái và nền, một số nơi là phần bao. Thực tế cho thấy địa phương nào làm tốt phương châm “Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, nhân dân tự làm” thì nơi đó nhà ở được làm tốt.

 Về đất ở: Với tinh thần chỉ đạo của Trung ương, chủ động giải quyết đất ở gắn liền với hỗ trợ nhà ở bằng nhiều biện pháp và cách làm khác nhau. Chủ yếu là chia sẻ, sang nhượng trong gia đình, họ hàng, cộng đồng hay tự tạo mặt bằng chỗ ở. Kết quả đến hết năm 2007 hoàn thành được 78% số hộ,74 % diện tích so với kế hoạch. Trên thực tế, đạt tỷ lệ cao hơn, nhiều địa phương đất ở cơ bản được giải quyết, ngoại trừ một số nhỏ đối tượng ở khu vực ven thị hay các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long do không còn qũi đất.

 Về đất sản xuất: Đã giải quyết đất sản xuất cho 70.549 hộ với diện tích 25.151 ha, đạt 30% số hộ-33% diện tích so với kế hoạch. Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long chưa thực hiện nên đã kéo tỷ lệ hoàn thành chung cả nước xuống thấp. Khu vực miền núi phía Bắc giải quyết chủ yếu qua hỗ trợ khai hoang, thực hiện các dự án ổn định dân cư, trong khi các tỉnh Tây Nguyên kết hợp khai hoang, qui hoạch đất và cấp đất cho hộ.

 Về nước sinh hoạt phân tán: hỗ trợ được 148.816 hộ, đạt 53% kế hoạch. Việc giải quyết nước chủ yếu dưới nhiều hình thức: đào giếng (các tỉnh Tây Nguyên), xây bể, mua bồn, lu đựng nước, hoặc đấu nối mạng (các tỉnh Nam Bộ), v.v.

 Về công trình nước tập trung: Đã xây dựng được 3.117 công trình) đạt 52% kế hoạch. Có 9 tỉnh đã hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình nước tập trung. Các công trình nước tập trung đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt cho hàng trăm ngàn hộ dân ở những vùng khó khăn.

 Đến hết năm 2007, một số tỉnh gần cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu của chương trình như Hà Tây, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Đắc Nông, Bình Phước.

 Từ những kết quả và tác động to lớn của chương trình, tiếp tục khẳng định Quyết định 134 là một chính sách đúng đắn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số và là chính sách đầu tư trực tiếp tới hộ nghèo. Việc thực hiện Quyết định 134 cũng tạo nên khí thế mới trong tinh thần của nhân dân ở các vùng nông thôn trong xây dựng cuộc sống mới, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giúp đỡ, tương thân, tương ái trong cộng đồng, thúc đẩy việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở. Kết quả đạt được trong gần 3 năm qua rất to lớn, đời sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trực tiếp được hỗ trợ đã được cải thiện từng bước, nhất là về điều kiện nhà ở và nước sinh hoạt, một số nơi cả đất ở và đất sản xuất. Đồng bào các dân tộc thực sự phấn khởi và tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

 Bên cạnh đó cũng còn một số tồn tại: Công tác xây dựng đề án ở một số địa phương chưa đạt yêu cầu, đối tượng và nhu cầu chưa chính xác nên phải rà soát, điều chỉnh nhiều lần; hỗ trợ đất sản xuất triển khai chậm và đạt kết quả thấp (30%); một số địa phương chưa thực hiên tốt lồng ghép các chương trình trên địa bàn và huy động nguồn lực cộng đồng và xã hội chỉ sử dụng duy nhất nguồn vốn của Trung ương được phân bổ; qui định thủ tục tài chính rườm rà và cấp vốn cho cấp huyện, xã chậm đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai; chế độ thông tin báo cáo ở các cấp chưa được kịp thời và đầy đủ làm khó khăn cho công tác chỉ đạo, quản lý cả ở cấp tỉnh và Trung ương.

 Về nguyên nhân, có thể thấy, định mức hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán ngay từ khi Quyết định 134 ban hành với mức thấp không có tính khả thi đối với nhiều đia phương, đặc biệt là đất ở và nước sinh hoạt phân tán. Chính sách thay thế hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đối với các địa phương không còn qũy đất sản xuất nông, lâm nghiệp và chính sách đất cho đồng bào Khmer khu vực Đồng bằng sống Cửu Long chậm được ban hành. Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho các địa phương trong hai năm 2005-2006 mới đạt 40%, ba năm mới đáp ứng được 76% yêu cầu.

 Công tác chỉ đạo Chương trình 134 ở một số đia phương chưa được quan tâm đầy đủ. Sự chỉ đạo và phối hợp giữa các cấp tỉnh, huyện, xã và ban ngành ở một số địa phương chưa thật chặt chẽ. Công tác chỉ đạo và việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách ở cấp cơ sở có nơi chưa được làm tốt. Các tỉnh đều thành lập Ban chỉ đạo các cấp nhưng thực tế là thiếu cán bộ, kiêm nhiệm, khối lượng công việc nhiều, địa bàn rộng thiếu kinh phí quản lý, v.v. đã ảnh hương đến kết quả và chất lượng thực hiện.

 Các nguyên nhân khác do tính phức tạp của nội dung chính sách và đối tượng thực hiện, bên cạnh đó là sức ép yêu cầu về mặt thời gian. Nhiều địa phương hiện không còn nhiều qũi đất để giải quyết và khung giá đất quá cao so với định mức của chính sách. Nhiều địa phương khố khăn trong việc cân đối 20% nguồn đối ứng và bố trí nguồn kinh phí quản lý. Một số cán bộ địa phương và người dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại.

 Năm 2008 với việc thay đổi qui định về chính sách theo văn bản số 1326/TTg, tổng nhu cầu vốn cho việc thực hiện Chương trình là 4.473,9 tỷ đồng, phần tăng thêm là 544,363 tỷ đồng, trong đó bổ sung hỗ trợ nhà ở là 145,03 tỷ, nước phân tán 20,1 14 tỷ, vốn đối ứng là 379,2 tỷ. Kế hoạch đã phân bổ năm 2008 là 1.387 tỷ. Số vốn đã cấp và phân bổ theo phương án mới đến nay là 4.391 tỷ. Chính phủ đã xác định đây cũng là năm cuối thực hiện chương trình, do đó các Bộ, ngành và địa phương cùng toàn thể nhân dân cùng quyết tâm phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của Quyết định 134 như sau:

 Hoàn thành hỗ trợ về nhà ở với số lượng còn lại năm 2008, đặc biệt ở các tỉnh Sơn La, Thanh Hoá, Sóc Trăng. Gắn việc giải quyết nhà ở với giải quyết đất ở cho những hộ thuộc diện khó khăn ở những nơi thiếu quĩ đất vùng ven thị, các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Giải quyết cơ bản việc hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho các hộ sống rải rác hoặc những nơi không có khả năng xây dựng các công trình nước tập trung, bảo đảm không để hộ dân không có nước. Hoàn thành cơ bản chỉ tiêu xây dựng các công trình nước tập trung trên cơ sở rà soát qui hoạch, bố trí xây dựng các công trình tập trung, ưu tiên cho những vùng khó khăn, nhiều đối tượng nghèo, đồng bào dân tộc, có đông đối tượng hưởng lợi bằng nguồn vốn 134 và lồng ghép với các nguồn vốn Chương trình 135, Nước sạch nông thôn, vốn tài trợ khác, bảo đảm hiệu quả cao nhất. Tập trung ưu tiên vấn đề giải quyết đất sản xuất (và xem đây là nhiệm vụ trọng tâm năm 2008) dưới nhiều hình thức: cấp đất, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, v.v. Để hoàn thành các mục tiêu và thực hiện theo tinh thần trên, các địa phương cần chủ động làm tốt những nhiệm vụ dưới đây:

 1. Tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị xã hội hơn nữa trong việc triển khai, kiểm tra, giám sát, nhằm đẩy nhanh tiến độ chương trình, thực hiện có chất lượng, hiệu quả chính sách.

 2. Trong quá trình tổ chức thực hiện, tiếp tục rà soát, phân loại, xác định đúng đối tượng, nội dung và mức độ thụ hưởng chính sách, nhất là nhu cầu về hỗ trợ về đất sản xuất, nước sinh hoạt bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch thực hiện Quyết định 134 của địa phương cả giai đoạn và năm 2008. Đặc biệt các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần tiến hành điều tra lại xác định chính xác nhu cầu cần hỗ trợ giải quyết đất sản xuất, gắn với đào tạo nghề, giải quyết việc làm, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện khi ban hành chính sách cho khu vực này.

 3. Trên cơ sở nguồn vốn trung ương cấp năm 2008 lồng ghép các chương trình, dự án, các nguồn vốn để xây dựng các phương án và điều chỉnh phù hợp. Việc cấp đất cần gắn với các dự án qui hoạch loại bố trí dân cư, định canh định cư. Việc hỗ trợ sản xuất cần gắn với thực hiện Chương trình 135, Quyết định 32/QĐ-TTg về vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Quyết định 31/QĐ-TTg về vay vốn đối hộ nghèo, v.v. Đối với các địa phương còn có diện tích rừng triển khai theo tinh thần Quyết định 304/QĐ-TTg.

 4. Tiếp tục Iàm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến thông tin chính sách đến cơ sở và xuống tận người dân hiểu nắm rõ nội dung, quyền lợi và trách nhiệm. Đặc biệt quán triệt và hướng dẫn trong đội ngũ cán bộ cấp xã (bao gồm cả chính quyền và các tổ chức đoàn thể).

 5. Chấn chỉnh các biện pháp quản lý bảo đảm việc thực hiện theo đúng kế hoạch, chế độ, chính sách.
Thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo và bố trí đủ kinh phí đối ứng, kinh phí quản lý theo qui định.

 6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp, nhất là cấp cơ sở. Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng, Mặt trận và các tổ chức chính trị, xã hội địa phương việc thực hiện Quyết định 134.

 Cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ Tướng Chính phủ, sự hỗ trợ các Bộ ngành Trung ương, sự ủng hộ của nhân dân, với tinh thần chủ động và sáng tạo, các địa phương phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của Chương trình 134 vào năm 2008.
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,757


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs