Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 31/01/2008
Một số giải pháp phát triển giáo dục nâng cao dân trí cho dân tộc La Hủ


Cầu treo vào bản của người La Hủ

Dân tộc La Hủ có cội nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc di cư vào Việt Nam sinh sống được khoảng 10 đời nay. Địa vực cư trú của người La Hủ chạy theo tả ngạn sông Đà, từ biên giới Việt-Trung tản dần vào nội địa. Người La Hủ sống tập trung và duy nhất tại các xã Pa ủ, Pa Vệ Sủ và một vài bản thuộc các xã Ca Lăng, Nậm Khao, Bum Tở thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Người La Hủ không có chữ viết riêng. Số đếm của họ chưa quá hàng vạn.

Ngôn ngữ dân tộc La Hủ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Người La Hủ biết tiếng nói và nói được nhiều thứ tiếng của dân tộc khác trên cùng địa bàn, ngược lại các dân tộc khác rất ít người biết tiếng của dân tộc La Hủ. Các dân tộc khác còn gọi người La Hủ là “Khù sung” (khổ nhiều), hay gọi là “Xá toong lương” (Xá lá vàng). Hiện nay dân tộc La Hủ có khoảng trên 7.000 người với 1.320 hộ thuộc 42 bản của 5 xã nói ở trên.

 Về hình thái kinh tế: Cuộc sống lâu đời của dân tộc La Hủ dựa vào tự nhiên là chính, truyền thống của họ là săn bắt hái lượm. Từ khi hoà bình lập lại (năm 1954) đến nay dân tộc này mới quan tâm đến việc làm nương rẫy và làm ruộng nước nhưng rất ít. Cuộc sống du canh, du cư gần như đã ngấm vào máu thịt của họ. Họ không có vườn tược, không trồng cây ăn quả. Công cụ lao động còn thô sơ, chủ yếu là ngoèo, dao quắm, cuốc loại nhỏ. Nhà ở đơn sơ, thường là tranh tre, nứa lá tạm bợ. Ngày nay một số hộ đã học cách trình tường nhà theo dân tộc Hà Nhì, hoặc nhà sàn theo dân tộc Thái.

 Về phong tục tập quán: Một phong tục truyền thống là bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt cạnh phòng ngủ của chủ nhà. Về hôn nhân được tự do tìm hiểu và hai người thuận tình thì đi đến hôn nhân; con trai phải ở rể 2-3 năm sau đó mới cưới vợ về nhà mình. Người La Hủ cho rằng có thần thánh, do đó họ cúng lễ như các dân tộc khác: cúng tết, cúng cơm mới, cúng ma nước, ma đá, ma dưới đất, cúng bản để cả bản được yên vui, mạnh khoẻ, phúc lớn. Người La Hủ không có chữ viết riêng vì vậy văn học nghệ thuật chủ yếu là truyền miệng. Tóm lại bản sắc văn hoá của dân tộc La Hủ có những nét riêng độc đáo mà ở các dân tộc khác không thể có được. Qua đây thấy được dân tộc này là một trong những dân tộc thiểu số rất ít người vẫn còn nhiều tập tục lạc hậu, dân trí thấp so với các dân tộc khác.

 Do cư trú ở những nơi điều kiện khó khăn, thường là trên núi cao, do đó còn chịu thiệt thòi về nhiều mặt trong đó có giáo dục và đào tạo. Hiện nay dân tộc La Hủ vẫn chưa tiếp cận được với trình độ trung học cơ sở và trung học phổ thông, lại càng không tiếp cận được với các loại hình trường chuyên nghiệp như: Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, kể cả đào tạo nghề. Từ năm 1990 đến nay dân tộc này chỉ có một trường hợp học sinh được vào học theo chế độ cử tuyển.

 Trình độ dân trí, chất lượng nguồn lực ở đồng bào La Hủ còn rất thấp so với các dân tộc khác sống cùng trên địa bàn. Số người có đủ trình độ văn hoá và có đào tạo để làm nguồn tuyển dụng cán bộ các cấp, đặc biệt là bộ máy chính quyền ở cấp xã hầu như không có (cả dân tộc La Hủ có một giáo viên dạy cấp 2 thì nay đã nghỉ hưu).

 Mặc dù tỷ lệ huy động ra lớp ở bậc tiểu học tương đối cao (70%), nhưng các điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học còn rất thấp dẫn đến tỷ lệ bỏ học giữa chừng cao (khoảng 30- 40%); bậc trung học cơ sở huy động ra lớp được 40% các em trong độ tuổi; bậc trung học phổ thông huy động ra lớp được 01%; thực tế có 03 học sinh theo học thì 02 em đang học tại trường phổ thông dân tộc nội trú (theo số liệu thống kề của phòng giáo dục huyện Mường Tè năm 2006).

 Hệ thống trường lớp chưa đồng bộ, hoàn chỉnh. Do đặc điểm địa bàn chia cắt, khoảng cách giữa trung tâm xã đến các thôn bản rất xa nhau, vì vậy không thể xây dựng trường lớp tập trung, gây khó khăn trong công tác quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học.

 Giáo viên tuy phần nào đáp ứng tương đối đầy đủ về số lượng, nhưng tuyệt đại đa số giáo viên từ miền xuôi lên hoặc từ nơi khác đến, kinh nghiệm trong công tác giáo dục vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế.

Đời sống vật chất của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. Cái khó nhất là giáo viên không biết tiếng dân tộc La Hủ mà học sinh vào lớp một lại chưa biết tiếng phổ thông do đó ngôn ngữ bất đồng, khiến cho việc dạy và học lại càng khó khăn hơn. Chính nguyên nhân này khiến cho học sinh dân tộc La Hủ bỏ học nhiều.

 Đặc biệt trẻ em dân tộc La Hủ đều bị một “khoảng trống” khá lớn đó là khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng phổ thông, đó là một trở ngại rất lớn, khó có thể vượt qua; nguyên nhân do tập quán, môi trường sống, dân trí thấp và sử dụng 100% ngôn ngữ dân tộc mình. Hầu hết trẻ em dân tộc này sử dụng tiếng Việt (tiếng Kinh) khi vào học lớp một là rất thấp nếu không muốn nói 100% không biết tiếng Việt (tiếng Kinh).

 Một nguyên nhân nữa là điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán lạc hậu, dân trí thấp hoàn cảnh gia đình nghèo túng (có xã 100% là hộ nghèo); một bộ phận trẻ em ở lứa tuổi học sinh phải đi lao động kiếm sống, có em còn là lao động chủ lực trong gia đình nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục.

 Để nâng cao dân trí cho dân tộc La Hủ trong thời gian tới cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo bằng những giải pháp cụ thể sau:

 Một là: Đổi mới trong nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về dạy và học. Trong phạm vi đổi mới phương pháp giáo dục thì vấn đề đổi mới nhận thức về dạy và học, về vị trí, vai trò của người thầy, xác định công tác dạy và học thì người thầy là yếu tố quan trọng số một. Người thầy vừa truyền thụ kiến thức, vừa dạy học sinh nhân cách làm người. Giáo viên là người hiểu tâm lý học sinh, nhưng tâm lý học sinh vùng cao, vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn khác với tâm lý học sinh ở miền xuôi; nhất là học sinh dân tộc La Hủ. Thường là học sinh vùng sâu, vùng cao không được tiếp xúc với xã hội bên ngoài do đó tính tự ty của các em rất cao, rụt rè không mạnh dạn, chính yếu tố tâm lý này mà khi dạy và học, thầy và trò gặp nhiều khó khăn nhất, ảnh hưởng đến chất lượng rất nhiều do đó cần đổi mới phương pháp dạy sao cho phù hợp.

 Trước hết là việc điều chuyển hoặc tuyển chọn giáo viên đến công tác tại vùng dân tộc La Hủ. Giáo viên là yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lượng giáo dục, do đó muốn phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc La Hủ phải tuyển chọn đội ngũ giáo viên tốt về phẩm chất đạo đức và khá về chuyên môn trở lên. Đồng thời những người thầy phải có tâm với nghề và với các em học sinh ở vùng này. Đặc thù là thầy đi vận động các em học sinh đến lớp học “thầy tìm trò chứ không phải trò tìm thầy như nơi khác”.

 Một việc không thể không bàn tới là giáo viên nhất thiết phải biết tiếng dân tộc La Hủ, nếu trước khi đến chưa biết tiếng La Hủ thì cơ sở giáo dục bằng hình thức nào đó phải cho đào tạo để giáo viên biết và giao tiếp bằng ngôn ngữ thông thường. Khi đứng lớp, người thầy phải giảng dạy bằng hai ngôn ngữ đó là tiếng Việt và tiếng La Hủ.

 Phải đào tạo được giáo viên tại chỗ là người La Hủ để ổn định và phục vụ lâu dài.

 Có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với giáo viên công tác (kể cả giáo viên tại chỗ) như nhà công vụ phải khang trang tránh tình trạng trường lớp học của học sinh thì kiên cố đẹp đẽ, còn các thầy cô giáo ở những ngôi nhà tranh tre nứa lá tạm bợ. Tăng phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thu hút cao hơn những nơi khác. Giáo viên sau khi hết thời gian công tác thì được thuyên chuyển theo đúng cam kết trước khi đến nhận công tác ở vùng này.

 Hỗ trợ phụ cấp cho giáo viên Mầm non không được hưởng lương từ ngân sách.

 Hai là: Đổi mới nhận thức của đồng bào dân tộc La Hủ trong phát triển giáo dục. Trước hết chính quyền cơ sở và các tổ chức chính trị xã hội phải vào cuộc đồng thời một lúc. Cần tuyên truyền rộng rãi liên tục, kiên trì và lâu dài về phát triển giáo dục cho bản thân và con em dân tộc La Hủ, họ nhận thấy phát triển giáo dục là nâng cao sự hiểu biết xã hội, hiểu biết khoa học và vận dụng vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế ở địa phương; nói một cách khoa học đó là tuyên truyền nhận thức để nâng cao dân trí.

Thực hiện khẩu hiệu: “Giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục” nhà nước và nhân dân cùng làm trong công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo, nhằm mục đích mọi người, mọi nhà phải ý thức được là “cho con đi học cái chữ về để nó biết làm ăn”; từ đó dấy lên phong trào học tập và thực sự làm tốt công tác giáo dục. Nhất thiết phải nâng cao nhận thức của người dân để dần dần đồng bào có khái niệm “xã hội hoá giáo dục” và thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.

 Ba là: Xây dựng cơ sở trường lớp khang trang, trang thiết bị đầy đủ. Muốn thu hút học sinh đến lớp đến trường, trước hết thực hiện đúng khẩu hiệu: trường ra trường, lớp ra lớp. Phải kiên cố hoá 100% trường lớp học. Trang thiết bị, đồ dùng dạy và học đầy đủ từ lớp mầm non trở lên.

 Bốn là: Nhà nước hỗ trợ kinh phí, học bổng chính sách 100% cho học sinh từ mầm non đến phổ thông trung học và học sinh nào được vào học đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề ưu tiên cho các em được vào học tại các trường chuyên biệt.

 Học sinh được giao tiếp bằng hai ngôn ngữ đó là tiếng Việt và tiếng La Hủ ngay từ bậc học mầm non trở lên.

Đình Tuấn
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,860


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs