Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 30/01/2008
Kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc
Sau khi Ban chấp hành Trung ương Khoá IX (kỳ họp thứ 7) ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc (gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 7), Ban cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) xây dựng kế hoạch chuẩn bị nội dung biên soạn tài liệu, tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt nghị quyết đối với cán bộ lãnh đạo, các bộ, ban ngành Trung ương, cán bộ chủ chốt các địa phương.

Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 của Chính phủ nhiều bộ, ngành và các địa phương đã tổ chức học tập và xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7. Công tác tổ chức học tập và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương thực hiện nghiêm túc, đến toàn thể cán bộ và nhân dân, nhất là ở vùng dân tộc và miền núi. Qua học tập đã nâng cao nhận thức về công tác dân tộc, tạo ra sự chuyển biến trong lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng và Nhà nước.

 Qua 4 năm (2003-2007) triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về công tác dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi nhất là các vùng trọng điểm (Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây Bắc) đã có bước tăng trưởng đáng kể. Chính phủ đã tăng cường nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2001-2005 và năm 2006 vốn đầu tư phát triển tăng bình quân hàng năm khoảng 20%, riêng cơ cấu nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có tỷ trọng tăng bình quân 25-30%. Đối với vùng đặc biệt khó khăn như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long tỷ trọng vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương tăng 30-35% hàng năm. Một số ngành đã đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, văn hoá xã hội ở vùng dân tộc như ngành giao thông, vận tải, bưu điện chiếm tỷ trọng 30%; nông-lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm tỷ trọng 22%; giáo dục-đào tạo chiếm 15,2%; y tế, xã hội chiếm 10%. Ngoài nguồn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn ODA cũng đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc trong lĩnh vực giao thông vận tải, cấp điện, cấp nước sinh hoạt, trạm y tế, giáo dục với tổng vốn đã thực hiện ước đạt 1.200 triệu USD (khoảng 20.000 tỷ đồng). Nhờ tăng nguồn lực đầu tư nên tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các địa phương vùng dân tộc và miền núi trong 4 năm (2003-2007) tiếp tục tăng trưởng từ 10-12% cao hơn mức bình quân chung của cả nước; trong đó có nhiều tỉnh có mức tăng trưởng cao như Quảng Ninh 12%, Bắc Kạn 12,45%, Sơn La 14,28%, Lai Châu 12,5%, Phú Yên 11,5%. Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng dân tộc và miền núi đang chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch và thương mại. Tỷ trọng sản xuất nông-lâm nghiệp đạt 25,4%; công nghiệp và xây dựng đạt 39,5% và du lịch, dịch vụ đạt 35,1%. Nhiều địa phương đã hình thành được vùng sản xuất tập trung có quy mô và sản lượng hàng hoá lớn như cây chè ở miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Yên Bái); cà phê, cao su, tiêu ở các tỉnh Tây Nguyên; cây ăn quả ở Nam Bộ. Các chương trình, dự án về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng được triển khai hiệu quả ở các vùng trọng điểm như: Quyết định 168, 186, 173, 120, 132, 134, trong đó nổi bật là kết quả thực hiện Chương trình 135, đã xây dựng được hơn 25.000 công trình thiết yếu và 400 trung tâm cụm xã đã làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, tạo điều kiện để đồng bào phát triển sản xuất vươn lên xoá đói giảm nghèo. Tỷ lệ giảm nghèo bình quân mỗi năm từ 4-5%, cơ bản không còn hộ đói kinh niên, đến nay đã có 671 xã hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn.

 Kinh tế tăng trưởng, tạo điều kiện để phát triển giáo dục đào tạo, y tế và văn hoá xã hội. Qua 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 đã xoá được 222 xã trắng về giáo dục mầm non, 100% thôn bản có điểm trường, 100% các xã có trường tiểu học, nhiều xã và trung tâm liên xã có trường phổ thông trung học cơ sở; 100% huyện có trường phổ thông trung học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú phát triển mạnh. Năm học 2003-2004 cả nước có 309 trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có 11 trường thuộc Trung ương, 45 trường phổ thông trung học ở tỉnh, 253 trường phổ thông trung học cơ sở ở huyện thu hút gần 75.000 học sinh. Năm học 2004-2005 đã tăng lên 325 trường, 48 trường tỉnh, 266 trường huyện thu hút gần 90.000 học sinh là con em đồng bào các dân tộc. Cùng với việc phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú cũng phát triển không ngừng, năm học 2003-2004 có 487 trường, tiếp nhận 44.000 học sinh, đến năm 2004-2005 tăng lên 519 trường, tiếp nhận 52.000 học sinh. Các trường đại học và dự bị đại học tiếp tục phát triển, đến nay cả nước có 4 trường dị bị đại học dân tộc, 6 khoa dự bị đại học thuộc các trường đại học. Số lượng học sinh được tuyển chọn vào các trường dự bị đại học ngày càng tăng, năm học 2003 tuyển được 1.135 sinh viên, năm 2005 tuyển được 2.437 sinh viên và năm 2006 tuyển được 2.691 sinh viên. Hàng năm số học sinh cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng, từ năm 2003-2006, tổng số học sinh cử tuyển là 5.895 sinh viên thuộc 51 dân tộc, đến nay chỉ còn 3 dân tộc chưa có học sinh cử tuyển là Ngái, Brâu, Ơđu. Đây là nguồn nhân lực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.

 Công tác y tế trong 4 năm qua cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Việc chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ngày càng tốt hơn, gần 100% đối tượng nghèo thuộc các dân tộc thiểu số có thẻ bảo hiểm y tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế ngày càng được tăng cường đầu tư, có 98% số xã có trạm y tế trong đó có 28% kiên cố và bán kiên cố, 100% các huyện miền núi có bệnh viện đa khoa, liên xã có phòng khám đa khoa khu vực; 94% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 47% số xã có bác sỹ. Trong tổng số 247 huyện miền núi vùng cao với 3.993 xã, phường thị trấn đã có 35.524 cán bộ y tế từ cơ sở trở lên, trong đó có 7.244 bác sỹ tuyến huyện và 1.637 bác sỹ tuyến xã; 21.737 y sỹ ở tuyến huyện và 13.131 y sỹ tuyến xã và 41.291 nhân viên y tế thôn bản. Các hoạt động tuyên truyền thực hiện kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em ở vùng sâu, vùng xa được quan tâm góp phần nâng cao sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc.

 Về văn hoá, xã hội, trong 4 năm qua đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển. Đến nay 100% số xã vùng dân tộc có nhà sinh hoạt văn hoá hoặc điểm bưu điện văn hoá xã. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức trong các dịp lễ hội, ngày tết của các dân tộc đã khơi dậy truyền thống văn hoá của các dân tộc. Hàng năm và hai năm một lần các địa phương và Trung ương tổ chức Liên hoan văn hoá truyền thống các dân tộc ở tỉnh và khu vực đã chọn lọc được tinh hoa văn hoá nhằm bảo tồn và phát huy trong cuộc sống cộng đồng của các dân tộc. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được đông đảo các tầng lớp tham gia. Đến nay có 100% số hộ gia đình, 100% xã, phường đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn hoá. Các hoạt động thông tin tuyên truyền như báo chí, phát thanh, truyền hình ở địa phương và Trung ương được đầu tư phát triển. Thực hiện Quyết định 975 của Chính phủ có hai mươi ấn phẩm báo chí cấp không thu tiền phục vụ đồng bào dân tộc miền núi. Nhiều báo đã cấp đến bản làng, phum sóc. Đến nay diện phủ sóng phát thanh đạt 90%, nhiều nơi đạt 100% và sóng truyền hình đạt 80%. Nội dung và thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc được mở rộng và phù hợp với thị hiếu đồng bào dân tộc. Nhiều ấn phẩm báo chí in song ngữ phục vụ đồng bào dân tộc. Nhờ đó việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc được phát triển ở các địa phương có đông đồng bào dân tộc.

 Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc miền núi cơ bản ổn định. Một số điểm nóng ở Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây Bắc, Tây Thanh Hoá, Nghệ An đã được các ngành, các cấp tập trung giải quyết kịp thời. Hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố vững chắc. Các lực lượng vũ trang đã cử 224 tổ công tác với 1.800 lượt cán bộ tăng cường tại 31 tỉnh, 114 huyện và 245 xã. Công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng (trừ các tỉnh Tây Nguyên và Tây Nam bộ), còn lại hầu hết các thôn, bản đều có đảng viên. Tất cả các xã vùng dân tộc đều có tổ chức cơ sở Đảng. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã có nhiều giải pháp tích cực, sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời yêu cầu chính đáng của dân, đảm bảo sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tuy vậy các thế lực phản động vẫn chưa từ bỏ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để chống phá cách mạng. Do đó cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái của kẻ xấu, yên tâm sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.

 Những kết quả nêu trên đã thể hiện quyết tâm của các cấp các ngành và của đồng bào các dân tộc, trong đó có sự đóng góp của hệ thống cơ quan công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Trước khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về công tác dân tộc, cả nước có 31 cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh với 8 mô hình và tên gọi khác nhau (Ban Dân tộc, Ban Dân tộc và Miền núi, Ban Dân tộc - Miền núi - Định cư, định cư, Ban Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tôn giáo và Dân tộc, Ban Dân tộc - Tôn giáo - Định canh, định cư, Ban Dân tộc - Miền núi - Xây dựng Kinh tế Hải đảo, Ban Miền núi - Dân tộc - Di dân kinh tế mới). Từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, đặc biệt là thực hiện Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/2/2004 của Chính phủ, đến tháng 12/2006 cả nước có 52 cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh và 254 Phòng Dân tộc cấp huyện; cấp xã (có 5.900 đơn vị hành chính cấp xã, phường) ở hầu hết các địa phương đều giao cho 01 Phó Chủ tịch xã kiêm nhiệm. Việc kiện toàn hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến tỉnh, huyện và xã đã trực tiếp quyết định đến kết quả thực hiện, công tác dân tộc và chính sách dân tộc của Nhà nước góp phần đưa nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc.

 Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 đạt hiệu quả, trong thời gian tới các cấp, các ngành cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm theo đúng yêu cầu của Nghị quyết đã đề ra, đảm bảo việc thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị trong cả nước.

Lê Vui

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,602


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs