Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Năm mới bàn về một việc không mới

 28/01/2008

Tác giả với ông Lô Văn Mằn, dân tộc Ơ Đu tại bản Kim Hòa, huyện Tương Dương (Nghệ An) một trong số rất ít người còn biết tiếng Ơ Đu (dân tộc ít người nhất ở nước ta)

LTS: Tác giả bài báo là cán bộ công tác lâu năm ở cơ quan Dân tộc. Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chính sách dân tộc, Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Dân tộc và miền núi. Hiện nay là Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân tộc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Ủy ban và là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Báo Dân tộc và Phát triển xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Câu hỏi đặt ra: Việt Nam ta có bao nhiêu dân tộc? Xin có vài ý nhỏ bàn về việc này.
 
Nghị định số 51/2003/NĐ-CP, ngày 16/5/2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc có ghi: “Điều tra, nghiên cứu tổng hợp về nguồn gốc lịch sử, sự phát triển của các dân tộc, các tộc người, các dòng tộc... Tổ chức và chỉ đạo thực hiện các biện pháp cụ thể để duy trì, bảo tồn và phát triển các tộc người...”. Thực hiện những nhiệm vụ trên, Uỷ ban Dân tộc cùng với các Bộ, ngành, cơ quan hữu quan đã và đang triển khai nhiều việc với những nội dung cụ thể khác nhau trên nhiều lĩnh vực: Văn hoá truyền thống; lễ hội, ngày hội văn hoá dân tộc; bảo tồn tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số... Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010” tại Quyết định số 1277/QĐ-TTg, ngày 7/12/2005. Theo đó, một việc rất quan trọng đã được đặt ra: Xây dựng Đề án “Điều tra, nghiên cứu xây dựng bộ dữ liệu về các dân tộc thiểu số, làm cơ sở cho việc quản lý nhà nước về dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nội dung của Đề án này sẽ bao gồm tổng hợp toàn bộ các nhiệm vụ nói trên trong Nghị định số 51, trong đó có vấn đề đặt ra là: Việc xác định thành phần dân tộc trong một số nhóm dân tộc, tên gọi dân tộc và tiêu chí để phân định thành phần dân tộc. Đây là những vấn đề cần sớm kết luận, đặng kịp đáp ứng yêu cầu của cuộc Tổng điều tra Dân số toàn quốc năm 2009.

Việc điều tra nghiên cứu xác định thành phần dân tộc ở nước ta đã tiến hành từ rất nhiều năm trước đây. Tuy nhiên, danh mục thành phần các dân tộc công bố ở những thời điểm khác nhau chưa hợp lý và nhất quán. Năm 1959, trong cuốn “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của nhóm tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu... xác định nước ta có 64 dân tộc. Đến năm 1973, sau nhiều cuộc hội thảo lấy ý kiến ở các địa phương, một số nhà khoa học đã đưa ra danh mục 59 thành phần dân tộc. Bảng danh mục 54 thành phần dân tộc Việt Nam mà hiện đang sử dụng được xác định từ năm 1978 với sự thống nhất giữa Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và Ban Dân tộc Trung ương (nay là Uỷ ban Dân tộc) sau đó được Chính phủ uỷ nhiệm Tổng cục Thống kê ban hành “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam” theo Quyết định số 121- TCTK/PPCĐ, ngày 2/3/1979. Các cuộc Tổng điều tra dân số toàn quốc vào các năm 1979, 1989 và 1999 đều được tiến hành trên cơ sở bản Danh mục trên. Danh mục thành phần các dân tộc không chỉ phục vụ cho Tổng điều tra dân số, mà còn là cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội nói chung và tổ chức thực hiện công tác dân tộc nói riêng. Từ những yêu cầu đó, một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu, xem xét. Xin có đôi điều được bàn thêm:

Một số địa phương (nhóm dân cư hoặc thông qua các cơ quan chính quyền, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh...) kiến nghị xem xét lại tên gọi (tộc danh) và thành phần của một số nhóm dân tộc. Một số công trình nghiên cứu khoa học, trong một số văn bản của các cơ quan Nhà nước và kể cả trên các phương tiện thông tin đại chúng còn nhiều ý kiến khác nhau về tộc danh và thành phần dân tộc: Nhóm Sán Chay (Cao Lan-Sán Chỉ); nhóm dân tộc Bru với dân tộc Vân Kiều; Ca Doong với dân tộc Xơ Đăng; Tà Ôi với dân tộc Pa Kô... hoặc A Rem, Mã Liềng, Sách, Rục, Mày, Tu Vang, Pa Lang, Xơ Lang, U mo,... trong nhóm Chứt; Mạ hay Châu Mạ; Racrây hay Ra Glai... hoặc Pa Dí, Thu Lao thuộc nhóm dân tộc Tày hay dân tộc Nùng; người Nguồn (Quảng Bình) có thuộc dân tộc Thổ (gọi là Thổ Nguồn); người Tà Mun, Xa Diêng (Bình Phước) có thuộc dân tộc Xtiêng không? v.v...

Như vậy, thành phần dân tộc với tên gọi chính thức và tên theo nhóm địa phương với các tên gọi khác nhau phải chăng cũng có chỗ chưa thống nhất hoặc liệt kê lẫn vào các nhóm khác nhau (ví dụ như Chil là nhóm trung gian gốc M’nông có bộ phận lớn di cư, ở lẫn với nhóm Cơ Ho và tự nhận là Cơ Ho; hoặc Ngái khai lẫn vào Hoa). Ngay cả cách viết tên dân tộc cũng có nhiều ý kiến khác nhau: H’mông hay Hmông hoặc Mông? Trong thực tế không có “tộc người Hoa”, mà gọi Hán trong dân tộc Hoa như cách viết Hoa (Hán) cũng không chính xác, Kơ tu hay Cơ-tu, Chư Ru hay Chu-ru, Cống hay Côông... Một số dân tộc rất ít người (dân số vài trăm người như Ơ Đu, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu...) không chỉ mai một về ngôn ngữ, bản sắc văn hoá truyền thống mà ngay cả ý thức tự giác tộc người cũng có dấu hiệu ngày càng không rõ nét. Vậy liệu phải chăng có một số dân tộc (nhóm địa phương) mà chúng ta chưa phát hiện ra hoặc đang sắp bị mất đi bởi các yếu tố đồng hoá tự nhiên? Ngược lại, vấn đề không phải chỉ là gộp lại hay tách ra một thành phần dân tộc nào đó mà từ trước đến nay đã xác định chưa chuẩn xác? Theo đó, để “chuẩn” việc phân định nhóm dân tộc với tên gọi của nó, về tiêu chí xác định thành phần dân tộc hiện nay (thời kỳ hội nhập quốc tế) cần nghiên cứu, có phải bổ sung thêm một vài tiêu chí khác, hay vẫn chỉ là 3 tiêu chí đang áp dụng (Ngôn ngữ-Đặc điểm sắc thái văn hoá đặc trưng-Ý thức tự giác tộc người).

Từ thực tiễn kết quả công tác dân tộc trong tiến trình đổi mới hơn 20 năm qua đã khẳng định “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc” vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc của các chính sách dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta. Nghiên cứu xác định thành phần dân tộc và tộc danh là việc làm cần thiết và hết sức nghiêm túc. Vấn đề không phải chỉ là trước đây phân định chưa chuẩn thì nay làm lại, mà là chúng ta cần có những căn cứ chính xác cả về cơ sở lý luận khoa học và yêu cầu của thực tiễn cuộc sống để xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn, bảo đảm sự phát triển, tiến bộ giữa các dân tộc trong sự bình đẳng và đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Như GS Đặng Nghiêm Vạn đã kiến nghị cách xử lý đối với một trong những trường hợp phân định một số nhóm dân tộc nói ở trên: Sán Chay vẫn giữ tên gọi Sán Chay với 2 nhóm địa phương Cao Lan và Sán Chỉ, trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam nên chỉ viết Sán Chay và bỏ cụm từ Cao Lan-Sán Chỉ trong ngoặc đơn, nhưng ở địa phương vẫn có thể gọi theo tên gọi của nhóm địa phương là Cao Lan hay Sán Chỉ... Đề án “Điều tra, nghiên cứu xây dựng bộ dữ liệu về các dân tộc thiểu số” mà Uỷ ban Dân tộc đang triển khai thực hiện sẽ khó có thể đầy đủ và toàn diện nếu như không lý giải được những vấn đề nêu trên-Việc mà từ nhiều năm nay các cơ quan khoa học, cơ quan quản lý các cấp và nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, đưa ra các giải pháp, kiến nghị. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có kết luận cuối cùng.

Năm mới 2008 đã đến, lại bàn về một việc không mới (?). Thiết nghĩ nếu việc đó chúng ta làm chưa đầy đủ, thì nó cũng vẫn là việc mới, cần bàn trong những ngày đầu năm mới.

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Kết quả đổi mới công tác chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc (01/2008)
  •  
  • Thực hiện chính sách ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (01/2008)
  •  
  • Những sự kiện quan trọng, tiêu biểu trong lĩnh vực dân tộc năm 2007 (01/2008)
  •  
  • Kết quả bước đầu thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (01/2008)
  •  
  • “Công tác xóa đói giảm nghèo cần tập trung hơn nữa vào địa bàn đặc biệt khó khăn” (01/2008)
  •  
  • Việt Nam sau 1 Năm gia nhập WTO: Cơ hội và thách thức trong năm 2008 (01/2008)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 60,102,686


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs