Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Công tác cải cách hành chính ở Quảng Bình-Kết quả sau 10 năm nhìn lại

 25/01/2008

Ông Phan Lâm Phương-Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình là tỉnh phía Bắc miền Trung, có diện tích tự nhiên 8.051,86km2, dân số trên 82 vạn người, có 7 đơn vị hành chính cấp huyện và 159 đơn vị hành chính cấp xã.

 Bước vào thời kỳ đổi mới, được sự giúp đỡ của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế Quảng Bình đã phát huy sức mạnh nội lực, triển khai nhiều giải pháp để xây dựng và phát triển quê hương, trong đó việc thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC) được đặt ra hết sức cấp thiết và quan trọng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, điều hành kinh tế-xã hội.

Năm 1996, Quảng Bình được Chính phủ Việt Nam chọn là tỉnh làm thí điểm Dự án CCHC công VIE/96/002 do Chính phủ Hà Lan và Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc tại Hà Nội đồng tài trợ; UBND tỉnh Quảng Bình đã nhanh chóng triển khai thực hiện cải cách cung ứng dịch vụ công trong các lĩnh vực: Công chứng; địa chính; đăng ký kinh doanh; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và triển khai làm thí điểm mô hình dịch vụ “một cửa” ở huyện Bố Trạch. Trên cơ sở kết quả đạt được ở huyện Bố Trạch, tiếp tục nhân rộng thêm ở 2 huyện Quảng Trạch và Lệ Thuỷ.

Qua 4 năm thực hiện (1996-2000), Quảng Bình đã thu được nhiều kết quả đáng kể, đã rút ra được một số bài học quan trọng, bổ ích, không chỉ có ý nghĩa đối với Quảng Bình mà còn cho các địa phương khác trong nước khi triển khai thực hiện CCHC công. Cuối năm 2000, Dự án VIE/96/002 kết thúc, trên cơ sở kết quả đạt được tỉnh Quảng Bình đã triển khai mô hình này cho tất cả các huyện, thành phố còn lại. Đến tháng 6/2001 Trung tâm giao dịch “một cửa” 7/7 huyện, thị xã đã đi vào hoạt động nền nếp. Đến nay, công tác CCHC ở Quảng Bình đã được triển khai sâu rộng ở tất cả các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh, cấp huyện, cơ sở và đạt được những kết quả quan trọng.

Về cải cách thể chế: Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn được đổi mới và dần đi vào nền nếp. Chất lượng ban hành văn bản ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Công tác rà soát văn bản được chú trọng và tiến hành thường xuyên; trên 8000 văn bản các loại ở tất cả các lĩnh vực ban hành từ năm 1989 đến nay đã được tập hợp để rà soát, trong đó đã công bố có 333 văn bản hết hiệu lực thi hành; riêng trong 6 tháng đầu năm 2007 đã rà soát 120 văn bản quy phạm pháp luật, công bố hết hiệu lực thi hành 63 văn bản, đề nghị sửa đổi 5 văn bản và ban hành mới 6 văn bản để thay thế những văn bản có nội dung không còn phù hợp. Thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới theo hướng đơn giản hoá, minh bạch, gắn với trách nhiệm của từng cấp, từng ngành theo phân cấp, tạo điều kiện thuận tiện cho người dân và tổ chức; đặc biệt là thủ tục hành chính trên những lĩnh vực bức xúc như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư, đăng ký kinh doanh... được rà soát nhiều lần, loại bỏ những thủ tục phức tạp, gây phiền hà, tạo niềm tin của người dân. Cơ chế “một cửa” được đặc biệt quan tâm chỉ đạo trong cả tiến trình cải cách; Quảng Bình là một trong những tỉnh triển khai thực hiện cơ chế này khá sớm; đến nay toàn tỉnh có 17/26 sở, ban, ngành cấp tỉnh, 7/7 huyện, thành phố, 154/159 xã phường, thị trấn thực hiện cơ chế “một cửa”. Đặc biệt trong tháng 7/2007, Sở Kế hoạch Đầu tư - Công an tỉnh-Cục thuế đã thực hiện cơ chế phối hợp trong việc đăng ký kinh doanh, khắc con dấu và đăng ký mã số thuế.

Về Cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước: UBND tỉnh đã quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của một số cơ quan chuyên môn như: Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Công nghiệp, Ban Dân tộc... Thành lập mới một số tổ chức quản lý Nhà nước như: Sở Ngoại vụ, Ban Tôn giáo; Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND tỉnh trên cơ sở tách Văn phòng HĐND và Đoàn đại biểu Quốc hội. Chuyển giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước tổ chức, bộ máy và công chức thuộc lĩnh vực Môi trường từ sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, lĩnh vực khoáng sản tử Sở Công nghiệp sang Sở Địa chính đảm nhận và đổi tên Sở Địa chính thành Sở Tài nguyên và Môi trường. Hợp nhất Ủy ban Dân số và kế hoạch hóa gia đình với Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc Trẻ em thành Uỷ ban Dân số-Gia đình và Trẻ em...

Ở các huyện, thành phố đã sắp xếp lại số phòng, ban chuyên môn từ 13-14 phòng xuống còn 10 phòng; bộ máy của các phòng, ban sau khi sắp xếp lại gọn nhẹ, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, khắc phục một số chồng chéo, trùng nắp, hiệp lực puản lý nhà nước được tăng cường trên nhiều lĩnh vực.

Kli Nbhị đ໋nh 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 và Nghị định 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ ban hành, tỉnh Quảng Bình sắp xếp lại một lần nữa tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, đến nay có: 26 cơ quan chuyên môn, 6 đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh; 13 phòng, ban chuyên môn cấp huyện, riêng thành phố Đồng Hới có 12 phòng, ban.

Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Công tác xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã được các ngành, các cấp quan tâm; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ về số lượng, cơ bản đảm bảo về chất lượng; việc bố trí sắp xếp cán bộ, công chức ngày càng hợp lý, đem lại những thay đổi tích cực trên các lĩnh vực hoạt động. Công tác tuyển dụng công chức, viên chức hàng năm đều được thực hiện thông qua việc thi tuyển và xét tuyển; từ năm 2001 đến nay tổng số công chức, viên chức được tuyển dụng là 4.151 người, trong đó thi tuyển 1.153 người và xét tuyển 2.998 người.

Công tác quy hoạch cán bộ thường xuyên được chú trọng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về số lượng cũng như về chất lượng, đem lại những thay đổi tích cực, toàn diện trên mọi lĩnh vực cả về việc ban hành các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng và cả về nội dung cũng như phương thức đào tạo, bồi dưỡng... Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên môn kỹ thuật của tỉnh cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh.

Về cải cách tài chính công: Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ (trước đây là Nghị định 192) được triển khai ở 35/35 đơn vị và quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ (trước đây là Nghị định 10) được triển khai ở 125/125 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh. Thông qua việc thực hiện cơ chế này, các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đã phát huy tính tự chủ, chủ động sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, tiết kiệm trong chi tiêu, năng động trong giải quyết công việc, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho cán bộ, công chức và viên chức.

Công tác hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước bước đầu được lãnh đạo các cấp, các ngành quan tâm; trụ sở làm việc của các địa phương, đơn vị được nâng cấp dần, một số huyện có 100% xã, trị trấn trụ sở làm việc nhà 2 tầng, trang thiết bị phục vụ cho công việc chuyên môn được đổi mới; 100% các sở, ngành cấp tỉnh và 7/7 huyện, thành phố nối mạng diện rộng của tỉnh để thực hiện việc báo cáo và thông tin liên lạc.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác CCHC ở tỉnh Quảng Bình so với yêu cầu công cuộc đổi mới, của sự phát triển kinh tế-xã hội cũng còn bộc lộ những hạn chế vướng mắc, đó là: Một số nơi ở cơ sở, chưa có sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ giữa cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể trong công tác CCHC nên chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đối với công tác này. Lãnh đạo một số ngành và địa phương chỉ đạo thiếu kiên quyết, không muốn cải cách, sợ đụng đến lợi ích cục bộ; do đó trong công tác chỉ đạo chưa chủ động đề ra những nội dung, chương trình cải cách sát, đúng, tích cực. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế nhất là nâng cao kỹ năng hành chính, thực thi công vụ; chưa gắn đào tạo với sử dụng, còn tình trạng đào tạo bồi dưỡng tràn lan tạo nên lãng phí trong đào tạo. Trong thực hiện cơ chế “một cửa” vẫn còn một số thủ tục hành chính chưa được cải tiến, có nơi còn hình thức, gây ách tắc chậm trễ. Kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thực thi công vụ chưa nghiêm, một số cán bộ, công chức còn cửa quyền, tuỳ tiện, sách nhiễu đối với dân, tinh thần trách nhiệm và năng lực của một số cán bộ, công chức còn yếu.

Qua quá trình triển khai thực hiện CCHC với những thành công và hạn chế nói trên, chúng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, CCHC là một lĩnh vực khó, do đó phải có sự chỉ đạo đồng bộ cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, phải có quyết tâm cao mới đạt được kết quả mong muốn, đặc biệt là nhận thức và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, vì thực sự đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt với sự bảo thủ trì trệ để đi đến một nền hành chính dân chu, trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại.

Hai là, Đảm bảo sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai thực hiện. Luôn coi nhiệm vụ CCHC là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng cần tập trung chỉ đạo, điều hành, gắn công tác CCHC với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị mình.

Ba là, Coi trọng công tác làm thí điểm, thông qua đó để đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng nếu thấy có hiệu quả.

Bốn là, Cần phải có một tổ chức thường trực để giúp việc cho chính quyền các cấp, trong việc xây dựng chương trình, nội dung về CCHC, đồng thời hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các nội dung, chương trình CCHC của địa phương, đơn vị.

Năm là, CCHC cần phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí. Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện thành công chương trình tổng thể CCHC.

Phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, vướng mắc, tỉnh Quảng Bình đã đề ra các mục tiêu và giải pháp chủ yếu thực hiện CCHC của tỉnh giai đoạn II (2007-2010). Mục tiêu trọng tâm là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại, có tính chuyên nghiệp cao, thực sự là nền hành chính phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh ban hành đúng quy định của pháp luật và tạo hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Thủ tục hành chính được rà soát hằng năm đảm bảo rõ ràng, đơn giản, công khai, minh bạch; tạo sự thông thoáng hấp dẫn cho môi trường đầu tư kinh doanh. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động theo cơ chế một cửa và cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước các cấp. Sắp xếp bộ máy hành chính các cấp tinh gọn theo quy định của Chính phủ, tách chức năng quản lý hành chính Nhà nước với hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp; đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có tính chuyên nghiệp cao có đạo đức, năng lực quản lý và kỹ năng thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan hành chính đơn vị sự nghiệp theo quy định.

Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ trên thì công tác CCHC ở tỉnh Quảng Bình vẫn còn phải tiếp tục có những nỗ lực hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, của sự phát triển kinh tế –xã hội trong thời kỳ hội nhập. Để thực hiện tốt hơn công tác này, tỉnh Quảng Bình rất cần sự quan tâm, đầu tư giúp sức của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế về tài chính, kỹ thuật, hỗ trợ đầu tư dự án, cử các chuyên gia đầu ngành về giúp địa phương. Có như vậy, chắc chắn công tác CCHC ở Quảng Bình trong những năm tiếp theo sẽ có những đóng góp to lớn trong sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung.

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,260,189


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs