Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Những giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng đa dân tộc miền núi ở nước ta hiện nay


Cán bộ , phóng viên đài TH huyện Sơn Hoà (Phú Yên) thường xuyên đảm bảo các chương trình tiếp sóng phục vụ đồng bào các dân tộc trong huyện.

PGS,TS. Phạm Duy Đức

 

Trong những năm đổi mới, đặc biệt là sau Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 5 (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”, đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi đã có bước phát triển mới về chất. Bước phát triển mới về chất ấy đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khoá IX) về công tác dân tộc, đó là: “Mặt bằng dân trí được nâng lên. Mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đã được thực hiện; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành từ Trung ương đến tỉnh, huyện, cụm xã. Văn hoá phát triển phong phú hơn; đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao một bước; văn hoá truyền thống của đồng bào được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm”. Đây là những thành tựu cơ bản đóng vai trò to lớn trong việc ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế và tạo lập môi trường văn hoá tinh thần lành mạnh mang đậm bản sắc riêng của các dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế, những vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi cũng đặt ra những thách thức mới. “ở nhiều vùng dân tộc và miền núi, tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số tập quán lạc hậu, mê tín, dị đoan có xu hướng phát triển. Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào còn thấp”1

Nhận thức đầy đủ và toàn diện thực trạng đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số ở vùng đa dân tộc miền núi, đánh giá đúng những mặt mạnh và yếu của nó, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu vực này là việc làm cấp thiết hiện nay.

Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, nước ta có 8 vùng văn hoá đó là: Vùng văn hoá Việt Bắc (thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc tả ngạn sông Hồng); vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ; vùng văn hoá Bắc Trung Bộ; vùng văn hoá duyên hải Nam Bộ; vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên; vùng văn hoá Đồng Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ); vùng văn hoá đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ).

Như vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi đa dân tộc tập trung ở vùng văn hoá Việt Bắc, Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên. Đồng bào ở đây gặp nhiều khó khăn hơn đồng bào miền xuôi về điều kiện địa lý tự nhiên và năng lực thích ứng trong giao lưu và hợp tác với bên ngoài.

Tỉnh Hà Giang có 22 dân tộc thì người Kinh chỉ chiếm hơn 11%, các dân tộc thiểu số khác chiếm 89%, trong đó đông nhất là đồng bào dân tộc Mông (30,41%), dân tộc Tày (26,4%), dân tộc Dao (15,42%). Tỉnh Lai Châu (cũ) có 21 dân tộc anh em chung sống, trong đó đồng bào dân tộc Thái chiếm 35%, dân tộc Mông: 25%, dân tộc Kinh: 19%. Tỉnh Yên Bái có 12 dân tộc, dân tộc Kinh: 50%, dân tộc Tày: 17%, dân tộc Dao: 9,7%, dân tộc Mông: 8,1%, dân tộc Thái: 6,1%.

ở khu vực Tây Nguyên, dân số có hơn 4 triệu người (chiếm 5,3% dân số cả nước), cư dân các dân tộc thiểu số chiếm 33,22%, người Kinh chiếm 66,78%. Quan hệ của cư dân - dân tộc ở đây được chia ra làm hai khối: Khối cư dân bản địa gồm 13 dân tộc được gắn bó lâu đời ở Tây Nguyên và khối cư dân chuyển cư đến qua nhiều thời kỳ khác nhau.

Sự đa dạng, phức tạp trong quan hệ cư dân giữa các dân tộc thể hiện ngay ở trong từng khối cư dân bản địa và cư dân chuyển cư. Trong 13 dân tộc của khối cư dân bản địa ở Tây Nguyên được chia ra làm hai nhóm ngôn ngữ khác nhau. Nhóm văn hoá ngôn ngữ Môn - Khmer (thuộc ngữ hệ Nam á) bao gồm 9 dân tộc: Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, M’Nông, Giẻ Triêng, Mạ, Rơ Măm và Hrê. Nhóm thứ hai là nhóm văn hoá - ngôn ngữ Malayô - Pôlênêxia (thuộc ngữ hệ Nam Đảo) bao gồm 4 tộc người: Gia Rai, Ê Đê, Rag Lai, Chu Ru.

Sự chênh lệch về dân số của các dân tộc ở Tây Nguyên rất rõ. Trong 13 dân tộc bản địa, người Ba Na, Ê Đê, Gia rai có số dân trên 10 vạn người. Số còn lại chỉ dưới 10 vạn dân.

Khối dân cư chuyển đến từ nhiều vùng miền khác nhau qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là sau năm 1954 và 1975. Trong nhóm này, người Kinh chiếm 66,78%, còn lại là đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao, Mường...

Những đặc điểm nổi bật trong quan hệ cư dân - dân tộc ở vùng miền núi đa dân tộc đã tạo nên tính phong phú và phức tạp trong quá trình xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá. Các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi thường ở phân tán trên các vùng đồi núi cao, gần với khu vực biên giới, nơi giữ vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng; các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi thường có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, tác động tới bảo vệ môi trường sống của cộng đồng. Điều kiện phát triển kinh tế ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số vùng đa dân tộc thường khó khăn, gắn liền với trồng nương rẫy, chăn nuôi. Đường giao thông đi lại khó khăn, hiểm trở, dân cư phân tán, đan xen giữa các dân tộc có ngôn ngữ và phong tục tập quán khác nhau; tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; hầu hết các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi cao đa dân tộc là những tỉnh gặp khó khăn trong phát triển kinh tế và văn hoá. Sự hỗ trợ của Chính phủ và chính quyền tỉnh đối với đồng bào các dân tộc ở vùng núi đa dân tộc có giới hạn. Sự chuyển đổi phương thức canh tác và xây dựng văn hoá cộng đồng gặp nhiều trở ngại do điều kiện địa lý tự nhiên, do cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ, năng lực của các tầng lớp dân cư còn hạn chế. Quá trình phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tác động mạnh đến sự phân hoá giàu nghèo giữa miền xuôi và miền núi và tạo ra sự phân hoá ngay trong nội bộ các dân tộc và các tầng lớp dân cư của đồng bào dân tộc thiểu số.

Vì vậy, vấn đề khai thác các tiềm năng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở các vùng miền núi đa dân tộc trong phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hoá là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự nỗ lực từ nhiều cấp, nhiều ngành khác nhau từ Trung ương đến cơ sở.

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành TW lần thứ 7 (khoá IX) về công tác dân tộc đã xác định nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác xây dựng đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường của hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở. Tăng cường thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số. Chú trọng làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hoá các dân tộc. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi. Nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc.

Đa dạng hoá, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú, tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng. Mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng tri thức cho cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp cùng với ngành văn hoá thông tin cần phải có những giải pháp thiết thực, hiệu quả để góp phần đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư vùng dân tộc thiểu số miền núi đa dân tộc. Trước hết cần tập trung vào một số giải pháp cấp bách sau:

- Đáp ứng nhu cầu văn hoá cơ bản và thiết yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng miền núi đa dân tộc về các phương tiện thông tin đại chúng (đài, phát thanh, truyền hình...). Ưu tiên các chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc có nội dung tuyên truyền sát hợp với trình độ và đặc điểm tư duy của đồng bào về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc củang. Tăng cường giới thiệu các giá trị tinh hoa văn hoá của đồng bào trên các phương tiện phát thanh truyền hình của TW và địa phương. Đài truyền hình TW cần có một kênh riêng phát tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với các nhu cầu của các dân tộc. Tăng thời lượng phát sóng tiếng dân tộc của các đài phát thanh và truyền hình địa phương.

- Đẩy mạnh việc sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số, kể cả các giá trị văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Giáo dục truyền thống và ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc cho các tầng lớp cư dân, đặc biệt là trong thanh thiếu niên.

- Tổ chức tốt các sinh hoạt văn hoá cộng đồng của cư dân vùng dân tộc thiểu số. Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, tổ chức lễ hội. Chống mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu. Tổ chức tốt các chợ văn hoá, bưu điện văn hoá, các sinh hoạt văn hoá của cộng đồng ở nhà văn hoá, nhà Rông văn hoá, xây dựng nội dung sinh hoạt phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu văn hoá của đồng bào.

- Thực hiện tốt việc xây dựng làng bản văn hoá, gia đình văn hoá phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng. Đẩy mạnh phong trào xoá đói giảm nghèo, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học. Tạo điều kiện để các em trong độ tuổi đi học được đến lớp đầy đủ. Đẩy mạnh việc tuyên truyền và giới thiệu các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và các điển hình tiên tiến, giúp bà con tiếp cận với quá trình phát triển kinh tế thị trường và công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội và cán bộ văn hoá người đồng bào dân tộc thiểu số ở cơ sở. Đảm bảo chế độ đãi ngộ thoả đáng để họ yên tâm và phấn khởi công tác, giúp ích cho sự phát triển của cộng đồng.

- Xây dựng các thiết chế văn hoá phù hợp với điều kiện địa lý- dân cư ở vùng dân tộc thiểu số miền núi đa dân tộc. Các thiết chế văn hoá này phải có nội dung hoạt động thiết thực và bền vững, tránh hình thức và lãng phí, không hiệu quả.

- Khuyến khích các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của TW và địa phương hướng về phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khuyến khích các hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội, các tỉnh kết nghĩa, đặc biệt là đoàn thanh niên và lực lượng công an, quân đội tham gia hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hoá.

- Nắm vững tình hình và kịp thời đấu tranh ngăn chặn những âm mưu chia rẽ dân tộc, gây mất trật tự an toàn xã hội của các lực lượng thù địch trong nước và quốc tế. Giữ vững kỷ cương, pháp luật của Nhà nước, nghiêm trị bọn tội phạm chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh biên giới, từng bước xây dựng hành lang văn hoá biên giới.

Xây dựng đời sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi đa dân tộc là một quá trình lâu dài, khó khăn và gian khổ, cần phải được thực hiện từng bước phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng nơi, phù hợp với đặc điểm văn hoá của từng dân tộc. Một mặt, chúng ta phải tạo tiền đề vật chất, xây dựng cơ sở kinh tế - kỹ thuật cho xây dựng và phát triển văn hoá. Đồng thời chúng ta cũng phải khai thác các giá trị văn hoá của dân tộc thiểu số như một động lực để phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong cộng đồng đồng bào dân tộc, thay đổi tư duy, lối sống, nếp nghĩ cổ truyền sang phát triển tư duy khoa học, xây dựng lối sống mới, nếp sống mới gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước là nhiệm vụ hết sức cơ bản và có ý nghĩa quyết định tới việc xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá ở vùng đầy khó khăn này. 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,902,631


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs