Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 22/03/2005
Lên mỏm đất tột Bắc

Cao Xuân Thái

 

Cái bắt tay thật chặt và ấm, nụ cười rạng rỡ trẻ trung trên gương mặt Bí thư Đảng uỷ xã Lũng Cú Lầu Dúng Páo, dân tộc Mông, 39 tuổi dành cho tôi lần này, như thầm trách: “Bận gì mà bây giờ bác mới lên...”. Giữa bời bời mây trắng, ánh nắng nhẹ mầu mật ong bạc hà, phấn ngô lất phất trong thinh không, tạo thành vô vàn hạt bụi vàng li ti ngào ngạt, hương thơm của hoa dại, cỏ mật nồng nồng quyến rũ. Chòm xóm của đồng bào Mông, Lô Lô như những tổ chim treo lơ lửng bên vách đá, núi non chót vót miên man, ruộng bậc thang thấp thoáng uốn lượn tựa nét chạm khắc của bàn tay người nghệ nhân tài hoa... Từng mảng, từng mảng thiên nhiên riêng biệt lẫn trong cảnh sắc hoang sơ, đang dần ấm lại trong mắt mỗi người. Chính lúc này, tôi hiểu mình đang chạm vào xứ sở của niềm khao khát tinh khôi...

Ký ức tuổi học trò của tôi những ngày cắp sách tới trường, vào tiết học địa lý, khi lần đầu vẽ bản đồ Tổ quốc. Tôi đã say mê đặt nét bút đầu tiên từ nơi biển Trà Cổ, lượn một vòng theo hình chữ S, dáng hình Đất Nước lúc ấy đã hiện ra, và đỉnh Lũng Cú vời vợi cũng hiện hình... Để hôm nay cái điểm cao vời ấy, nói như nhà văn Nguyễn Tuân: “Mỏm Lũng Cú tột Bắc” đang trọn vẹn, huy hoàng trước mắt tôi với bao xúc động... Khi trưởng thành, đã dọc, ngang đất nước, ký ức ấy, tôi đã dành một phần cho văn chương nghệ thuật, một phần giữ lại cho riêng mình... Tôi nhận ra Lũng Cú không chỉ là chóp nón bài thơ muôn đời, Lũng Cú đích thực là vầng trán kiêu hãnh của Tổ quốc, còn đẫm mồ hôi và sương gió...

Từ trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, chúng tôi đi bộ qua hồ Lô Lô, men theo chân núi Rồng để lên phần đất thượng cùng Tổ quốc. Con đường giao thông nông thôn loại B mới được đưa vào sử dụng từ năm trước, với chiều dài 4 cây số, nhưng chi phí đến bạc tỷ, trong đó Nhà nước hỗ trợ một phần, số còn lại phát huy nội lực trong dân. Bây giờ từ Lũng Cũ, ta thong dong phóng xe hơi lên Séo Lủng, ra cột mốc 17 một cách thuận lợi.

Đi cùng chúng tôi có trung tá đồn trưởng biên phòng Lũng Cú- Nguyễn Ngọc Châu, 40 tuổi, quê ở Yên Sơn - Tuyên Quang, gắn bó với vùng biên 10 năm, gia đình anh hiện giờ cư trú tại thị xã Hà Giang, cái thị xã đẹp như bông hoa trên nền thổ cẩm, có dòng sông Lô hiền hoà chảy giữa, là điểm cuối quốc lộ 2, suốt ngày đêm tiếng xe tải hạng nặng ầm ì lên cửa khẩu Quốc gia Thanh Thuỷ.

Bước chân chắc nịch, Châu khoát một vòng tay tự tin, mắt hướng về phía những cánh rừng thông, tống quá sử dầu dãi nắng gió. Đây là một phần trong 600 ha rừng, chỉ tiêu do bộ đội biên phòng thực hiện ở địa bàn. Trong chương trình phát triển kinh tế xã hội, riêng chỉ tiêu trồng rừng của xã thực hiện trong những năm tới lên đến 1003 ha, chủ yếu là giống pơ mu, cỡ hàng vạn cây. Chắc chắn từ nay đến 2010 Lũng Cú có bước phát triển rất xa... Tôi biết các anh còn quản lý 3 xã biên giới gồm: Ma Lé, Lũng Táo, Lũng Cú với chiều dài 31 km đường biên, riêng Lũng Cú hơn 16 km.

Gần trưa chúng tôi đến Séo Lủng, cũng là lúc các em học sinh tan trường, trên những lối mòn về từng thôn bản, các em như đàn chim non ríu rít rực rỡ sắc mầu, hình ảnh này không còn xa lạ đối với vùng sâu, vùng xa những năm gần đây. Khi sự nghiệp giáo dục đã trở thành quốc sách, thấm nhuần sâu sắc trong từng người dân...

Séo Lủng nằm trên phần dài của một thẻo đất dốc, xuôi vào địa phận Lũng Cú, với 42 hộ chủ yếu là dân tộc Mông. Phía trái là thung lũng Thèn Ván sâu hút thăm thẳm ước chừng 50 ha, màu lúa chín vàng, màu xanh của rau, đậu xen kẽ. Phía phải là đầu nguồn dòng sông Nho Quế như vỡ ra từ hoang mạc... Dòng sông này bắt nguồn từ Mú Cảng (Vân Nam Trung Quốc), đổ vào Đồng Văn, chảy qua Mèo Vạc hoà vào sông Gâm ở địa phận Bắc Mê. Mầu nắng khảm vàng lên núi non, sông suối, có cái gì như: “Nhớ một chiều Tây Bắc” tác phẩm sơn mài nổi tiếng của hoạ sĩ Phan Kế An. Vẫn mầu vàng chanh ấy, dáng núi lô xô và bóng người thấp thoáng... sao tôi thấy xao xuyến, nhớ thương đến nghẹn ngào... Xin cảm ơn thiên nhiên, trời đất miền cao đã ban tặng cho ta bao nhiêu thứ quý giá, thiên nhiên còn là tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, độc đáo đến từng chi tiết... Thật hạnh phúc cho văn nghệ sĩ trước sự mời gọi, quyến rũ không cưỡng được của kiến tạo, cứ vậy mà chộp lấy, ghi lại trong trường liên tưởng, cảm hứng, nhiều chiều được mở ra vô cùng của thế giới nghệ thuật...

Tôi nhớ lại, những năm tháng chống Mỹ cứu nước đang bước vào thời kỳ khốc liệt nhất. Nhà văn Nguyễn Tuân đã rời Thủ đô lên với Cao nguyên đá. Ông được huyện Đồng Văn chu đáo bố trí người, ngựa tháp tùng ngược Lũng Cú. Lúc này thời tiết đã vào thu, hương vị của trái lê “ăn đủ năm mùi”, tình người vùng cao hồn hậu đã ngấm vào ông như một kỷ niệm khó quên.

Khi ngồi chót vót trên Séo Lủng, nhà văn mới tỉ mẩn làm sao. Ông rút trong xác cốt tấm bản đồ Tổ quốc, và trịnh trọng treo lên vách đất trong ngôi nhà của gia đình người Mông, đăm chiêu, nghiêng ngó. Ông hớp từng ngụm rượu nhỏ rồi thong thả buông quả dọi từ chóp nón là điểm cao nhất cực bắc, thấu vào vùng mặn mòi phù sa Cà Mau - Mũi đất cực nam. Đường thẳng buông của quả dọi nằm trên một đường kinh tuyến 105 độ, nhưng Lũng Cú ngả sang phía đông, còn mũi Cà Mau thì chếch sang phía Tây. Vĩ tuyến chạy qua mũi đất cực nam này chừng 8,5 độ, còn vĩ độ chạy qua Lũng Cú là 23 độ 22 phút Bắc.

Ông là người thích xê dịch, mơ mộng đầy chất lãng tử. Bởi vậy ông ao ước được ngồi trên chiếc trực thăng tốc hành, bay từ cực nam, rồi đổ bộ xuống vùng đất muôn trùng khuất nẻo cực bắc này để thêm yêu giang sơn gấm vóc của ta hơn, mang theo cả những mầm đước để góp phần mầu xanh cho xứ đá, kèm theo than đước đỏ rực trong cái lồng ấp. Cá tươi của Cà Mau, nướng cùng những bìa đậu do bàn tay người mẹ dân tộc Mông tảo tần làm ra, uống rượu ngô men lá để ngẫm ngợi về một vùng quê, núi non trùng trùng như lớp sóng thời tiền sử không tan quả là mãn nguyện...

Ông đã nói thay lớp nhà văn hậu thế chúng ta: “Cái đỉnh núi đã được đất nước, ông bà giao cho cái trọng trách đặt một chiếc nón lá lên đầu người khổng lồ Tổ quốc... Lũng Cú đây đích thị là cái chóp nón, một cái nón bài thơ muôn đời...” Và đứng trên cột mốc 17 (đoạn 3 Hà Giang - Vân Nam thuộc thôn Séo Lủng, phần đất cao nhất Tổ quốc), niềm xúc động ấy cứ trào dâng trong tôi khôn xiết...

Phên dậu Tổ quốc là gì, nếu không phải là mom sông, lũng núi, cỏ cây, đời người...! Vừa giản dị, cụ thể mà cũng thật lớn lao, sâu nặng...

Từ năm 1887, triều đình phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc) cùng Chính phủ Pháp thực dân đã dựng cột mốc này để phân chia biên giới giữa hai quốc gia. Đến nay, trải qua thăng trầm, dâu bể... Với bao nhiêu máu xương của nhiều thế hệ đổ xuống... Lũng Cú vẫn mãi mãi xứng đáng như một chấm son, là địa chỉ tin yêu, ngưỡng vọng bao người... Lẽ đó, địa danh Lũng Cú chính là tên gọi của một thủ lĩnh dòng họ Lô Lô đã có công khẩn hoang, mở mang bờ cõi...

Có lần tôi lên xóm Lô Lô Chải gồm 75 hộ dân, gặp trưởng bản Vàng Dỉ Sinh hơn 70 tuổi đang lau chùi, nâng niu hai chiếc trống đồng. Trống đồng Lô Lô Lũng Cú thuộc dòng trống đồng Đông Sơn (muộn). Tên khoa học là Hê Gơ (4) và Hê Gơ (4+1) trống nhỏ gọi là trống đực, trống to là trống cái. Đây là báu vật thiêng của thôn bản, dòng họ. Năm trước, một số kẻ tăm đồ cổ từ miền xuôi, băng rừng lội suối lên đây, đặt giá rất cao để mua, đồng bào căm ghét, khinh bỉ đã đuổi chúng ra khỏi bản...

Đồng bào Lô Lô trước đây có phong tục may sắm quần áo đúng kiểu dân tộc Lô Lô Lũng Cú để mặc cho người qua đời, đưa tiễn người quá cố lên đường trời cũng bằng nhịp trống đồng, như thế tổ tiên mới nhận...

Với lớp da mồi, thấm đẫm sương gió thời gian, không nhớ bao lần già Sinh trầm ngâm bên bếp lửa, ánh mắt sâu thẳm, bát rượu vơi lại đầy, hắt bóng lên vách đất đêm đêm. Cụ kể cho con cháu nghe nguồn cội của dân tộc mình, về đôi trống đồng Lô Lô- Báu vật thiêng đến nỗi chỉ bậc cao niên, có uy tín, đức độ mới được bảo vệ. Không được phép đưa trống qua sông, thuồng luồng sẽ xuất hiện và lấy mất. Trống chôn dưới đất có than Pơ mu bao bọc để chống ẩm. Khi lấy lên sử dụng, đồng bào Lô Lô có bài cúng riêng, kèm đôi gà trắng và rượu, như vậy tiếng trống mới có linh nghiệm...

Tôi đắm mình trong nhịp trống ngân nga, quanh ngọn lửa hồng là những vũ điệu mạnh mẽ, dẻo mềm mô phỏng nhịp sống lao động, khát vọng, tình yêu... đưa tôi về với ý nghĩ ban đầu... Chính cụ Sinh và những bậc cao niên trước đó đã gìn giữ, để lại cho cháu con mạch nguồn văn hoá dào dạt như dòng sông không hề vơi cạn và trệch hướng. Nếu đánh mất bản sắc văn hoá, thì dân tộc mình sẽ ra sao, trước sự nhiễu loạn và bất trắc của thế giới này? Bởi vậy từ lúc thiếu thời đến khi về già đồng bào vẫn mang theo câu hát nhắn nhủ: “Nếu nên người thì núm ruột hồng vượt lên đá, nở thành hoa...”.

Dưới nắng chiều như thiêu như đốt, hoặc giữa ngày đông lạnh lẽo, nhìn đồng bào Mông, Lô Lô cần mẫn xếp đá kè ruộng bậc thang, để có thêm thước đất gieo trồng. Có ai đo được cái giá phải trả cho sự sống nơi này. Để có được miếng ăn, cái mặc, cho dù còn đạm bạc, đơn sơ... Đồng bào tôi phải đổi bằng từng giọt mồ hôi nhọc nhằn chảy qua năm tháng. Sự sống còn tính bằng mầu lộc biếc khi mỗi độ xuân về. Bằng hồn sông núi ngân nga đọng lại trong mỗi nhát cuốc, từng xá cày xới đá, lật đất...

Suốt một đời cần mẫn cày cuốc, trồng gieo... trong ý nghĩ của người dân Lũng Cú như thể sinh ra là để chống chọi với khắc nghiệt của tự nhiên: Nắng cháy, tuyết rơi, khát nước, bệnh tật, tăm tối, đói ăn, nhạt muối... Còn là những cuộc thiên di lớn đi tìm miền đất hứa. Cát cứ. Nhằng nhịt trong các quan hệ dòng tộc. Những lề thói hủ bại... đã nhiều lần làm cho Lũng Cú xanh xao kiệt sức... Trong thăm thẳm buồn đau... May thay, đồng bào đã đoàn kết lại, khao khát, tin yêu... chính chân lý ấy đã giúp Lũng Cú đứng vững trên đôi chân của mình...

Để biết chất lượng sống của người dân, tôi đã vào các chợ để hiểu sức mua, nhìn vào bữa ăn của từng gia đình. Bát mèn mén của đồng bào hôm nay đã đầy hơn, thơm hơn. Khẩu phần dinh dưỡng có rau xanh, thịt cá. Một thứ thực phẩm sạch mà dưới vùng đô thị không hề có, và rượu ngô thì không bao giờ thiếu... Từ xanh xao kiệt sức, Lũng Cú hôm nay như chàng trai cường tráng, đang yêu...

Bữa cơm tối được dọn ra, dưới ánh điện chan hoà, tôi nhìn Lầu Dúng Páo uống rượu sao mà thú vậy. Tôi không dùng được rượu, nhưng cũng hăng hái cạch chén với mọi người để bữa cơm thêm thân tình, ấm cúng. Lầu Dúng Páo nói với tôi: Uống rượu cho lại sức rồi đi nghỉ, để sớm mai còn lên 283 bậc đá, thăm cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng, hoàn thành trong năm 2002. Độ cao trung bình ở Lũng Cú là 1800 mét so với mặt nước biển, bởi vậy cột cờ Tổ quốc nơi đây đường bệ như một ngọn tháp ngà cao gần 20 mét, nâng lá cờ Tổ quốc rộng 54 mét vuông, trông thật bề thế và ấn tượng...

Trong câu chuyện với các đồng chí lãnh đạo xã Lũng Cú, tôi biết đời sống của đồng bào đã khá lên rõ rệt. Trong 3.118 khẩu (599 hộ), hiện thời không còn hộ nghèo. Với 9 thôn bản, thì 8 thôn bản đã có điện thắp sáng, bằng nguồn điện lưới quốc gia. 90% nhà ở của đồng bào đã ngói hoá, có sự hỗ trợ tấm lợp của tỉnh. Tình trạng khan hiếm nước đã chấm dứt. Bệnh xá, trường học, trụ sở xã đều được xây dựng kiên cố hai tầng. Nhà ở cho giáo viên, học sinh nội trú dân nuôi, khang trang thoáng mát. Năm 2003 Lũng Cú còn được đầu tư gần 4 tỷ đồng để xây dựng nhà nghỉ, và một số cơ sở hạ tầng phục vụ khách đến thăm. Đàn gia súc bò, ngựa, dê... không ngừng tăng, lương thực bình quân 320 kg/người/năm là kết quả của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác... Trạm thu phát lại truyền hình, nhà bưu điện văn hoá xã cũng là nét mới trong đời sống tinh thần của Lũng Cú hôm nay...

Về khuya, miền đất địa cầu như lạnh hơn, Lũng Cú chìm dần vào mênh mông sương trắng, bốn bề im vắng như một xứ thần tiên...

Qua hết thảy buồn vui, còn lại trong tôi một Lũng Cú dữ dội và kiêu hãnh. Một tấm gương của ý chí, nghị lực, khát vọng... Lũng Cú đang thay dần tấm áo cũ chật hẹp, khoác lên mình dáng vẻ mới của cuộc sống hiện đại, bởi lúc vào tôi đã gặp đoàn ngựa thồ nặng trĩu hàng trên lưng, bên đoàn xe gắn máy đang lướt nhanh trên những con đường mới...

Giữa tầng tầng của dấu tích ngàn năm vẫn còn lại trong dáng núi, rừng già những gì thật riêng, thân yêu nhất của Lũng Cú, như thể lửa than ủ ấm lòng người từng đêm gió trở...

Vùng đất của chè san, rượu mật ong và thắng cố. Xứ sở của đào phai, hoa lê, tuyết trắng và náo nức buổi chợ phiên. Tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn say quyến rũ người tình. Tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa pơ mu nồng đượm đêm dài Lũng Cú.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,217,233


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs