Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 22/03/2005
Kết quả giành được sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 45/CT-TW của tỉnh Hà Giang

Lê Vui

 

Tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 45/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số công tác ở vùng dân tộc Mông tỉnh Hà Giang, đồng chí Tráng A Pao, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội đã phát biểu nêu lên 10 điểm “nhất” của dân tộc Mông so với các dân tộc thiểu số trong cả nước, đó là: ở nơi khó khăn nhất; cơ sở hạ tầng thấp kém nhất; trình độ dân trí thấp nhất; trình độ phát triển sản xuất thấp nhất; nghèo đói chiếm tỷ lệ cao nhất; tỷ lệ mù chữ nhiều nhất; môi trường bị suy thoái nhiều nhất; du canh du cư nhiều nhất và bị tà đạo lợi dụng nhiều nhất; trong đó dân trí thấp và nghèo đói là hai vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Nêu lên như vậy để thấy được những khó khăn cùng những việc làm của tỉnh Hà Giang trong 10 năm qua. Bởi ở Hà Giang, dân tộc Mông chiếm 30,8% dân số cả tỉnh và chiếm 23% người Mông trong cả nước. Như vậy, có thể thấy ở tỉnh Hà Giang cứ 3 người dân thì có một người Mông và trong phạm vi cả nước cứ 4 người Mông thì có một người Mông ở Hà Giang. Do đó giải quyết tốt một số công tác ở vùng dân tộc Mông như Chỉ thị 45/CT-TW nêu ra là việc làm đầy ý nghĩa không chỉ trong phạm vi của tỉnh Hà Giang mà còn có ý nghĩa trong phạm vi cả nước.

Qua 10 năm thực hiện Chỉ thị 45/CT-TW, tỉnh Hà Giang đã tạo ra bước chuyển biến tiến bộ toàn diện, trên mọi lĩnh vực, trong đó Chương trình “mái nhà, bể nước, con bò, điện sáng” trực tiếp đầu tư cho hộ gia đình là một việc làm sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng người dân nên chủ trương này nhanh chóng đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực, giải quyết những vấn đề bức xúc nhất bao đời nay chưa khắc phục được. Để chương trình “mái nhà, bể nước, con bò, điện sáng” trở thành hiện thực, tỉnh Hà Giang đã hỗ trợ tấm lợp nhà cho 3,2 vạn hộ, gần 1 vạn hộ được hỗ trợ xoá nhà tạm; hàng ngàn hộ được hỗ trợ 2 tấm phản nằm; hơn 3,1 vạn hộ được hỗ trợ xây bể nước gia đình; hơn 2 vạn hộ được kéo điện đến tận nhà. Đây là những việc làm mang đầy tính nhân văn cao cả. Lo cho dân “an cư để lạc nghiệp”, cũng là một việc làm tích cực của Hà Giang để chấm dứt tình trạng du canh du cư, di dịch cư tự do. Đây là một việc làm kiên trì, thể hiện quyết tâm cao của tỉnh Hà Giang. Theo số liệu khảo sát tháng 10/1993 (trước khi thực hiện Chỉ thị 45/CT-TW) toàn tỉnh có 43.000 hộ, 267.990 người thuộc diện vận động định canh định cư, trong đó có 756 hộ, 4.815 người thuộc diện du canh du cư đang cần sự giúp đỡ của Nhà nước để ổn định cuộc sống. Với sự quyết tâm của tỉnh cùng sự chỉ đạo giúp đỡ trực tiếp của Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn (Cục Định canh Định cư), trong 10 năm qua đã xây dựng được 47 dự án thuộc chương trình Định canh Định cư với tổng số vốn đầu tư 91 tỷ đồng, đã tạo điều kiện cho 43.459 hộ ổn định cuộc sống và đưa 3.921 hộ trở lại sinh sống lập nghiệp ở các bản giáp biên giới ổn định định canh định cư. Vận động 2.525 hộ hạ sơn theo qui hoạch ở vùng thấp và sắp xếp qui hoạch điểm dân cư cho 3.000 hộ đến nơi ở mới để phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Cùng với việc thực hiện công tác định canh định cư, tỉnh Hà Giang đã thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị 660 TTg của Thủ tướng Chính phủ (ngày 17/10/1995) về giải quyết tình hình di cư tự do; nếu tính từ năm 1991 - năm 2003 toàn tỉnh có 1.410 hộ, 7.407 khẩu di cư tự do đi các tỉnh thì đến tháng 3 năm nay, chỉ có 34 hộ, 158 nhân khẩu di cư tự do. Kết quả này góp phần ổn định dân sinh, chính trị trên địa bàn tỉnh. Như vậy, Hà Giang đã đặt lên hàng đầu vấn đề “an cư”, lo cho dân có cuộc sống bình yên trong từng ngôi nhà. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm vì dân của các cấp uỷ Đảng và chính quyền trong tỉnh. Một khi lòng dân ý Đảng đã thống nhất thì mọi việc dù khó khăn đến đâu cũng vượt qua. Cùng với việc lo ổn định nơi ở cho một bộ phận đồng bào ở vùng cao, tỉnh Hà Giang còn tăng cường các nguồn lực tập trung cho công tác xoá đói giảm nghèo. Lo chỗ ở cho dân chưa xong lại tiếp tục lo “cái ăn” để dân “no cái bụng” giảm đói nghèo. Trước năm 1995 tỷ lệ đói nghèo trong tỉnh Hà Giang chiếm đến 46% thì đến nay giảm xuống còn 15% (riêng đồng bào dân tộc Mông, tỷ lệ đói nghèo giảm xuống còn 20,7%). Bình quân lương thực từ 250 kg/người/năm 1995, đến năm 2003 đã đạt 350 kg/người/năm. Điều đáng mừng là có thêm lương thực mà vẫn bảo vệ khoanh nuôi và trồng mới được rừng. Tỉnh đã tiến hành giao rừng cho 108.956 hộ với tổng diện tích là 788.437 ha. Hàng năm tỉnh giành ngân sách từ 15-18 tỷ đồng để hỗ trợ dân mua giống ngô, lúa lai có năng suất cao và Ngân hàng Nông nghiệp còn cho 85.547 hộ vay 94.532 triệu đồng để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp. Nhờ vậy tình trạng đói kéo dài trong dịp giáp hạt không còn là phổ biến, vấn đề an ninh lương thực được đảm bảo trên địa bàn tỉnh. Những kết quả này đều bắt nguồn từ việc tăng cường đầu tư của Nhà nước, trong đó phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất được ưu tiên hàng đầu. Nếu như các chương trình đã nêu ở trên trực tiếp đầu tư cho hộ thì các chương trình điện, đường, trường, trạm, chợ, phát thanh truyền hình, sách báo... lại đầu tư cho cộng đồng, tạo ra diện mạo mới khang trang làm thay đổi thực trạng nông thôn miền núi theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nếu tính từ khi chia tách tỉnh năm 1991, cả tỉnh Hà Giang còn 81 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã thì đến năm 2000 tất cả 193/193 xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã; đến nay có 142/193 trụ sở xã, 129 trạm xá, 316 trường, lớp học được xây dựng từ 2-3 tầng; có 60 điểm Bưu điện Văn hoá; 140/193 trụ sở UBND xã đã lắp đặt điện thoại; xây dựng được 129 công trình nước tự chảy, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của đồng bào. Hỗ trợ 3,1 vạn hộ ở vùng cao xây bể chứa nước sinh hoạt, cơ bản giải quyết đủ nước ăn trong mùa khô. Đầu tư kéo điện lưới quốc gia đến 11/11 huyện thị và 159/193 xã với 79.499 hộ được sử dụng điện. Có thể nói nhờ phát triển cơ sở hạ tầng nên đã rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa miền núi và miền xuôi, tạo điều kiện để giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, các miền, các địa phương trong tỉnh và thông thương buôn bán với bạn hàng Trung Quốc.

Cùng với sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, sự nghiệp giáo dục và đào tạo, văn hoá, y tế; đào tạo cán bộ, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở cũng được tỉnh Hà Giang quan tâm thực hiện có hiệu quả. Trong 10 năm qua đã tuyển chọn được 1.450 em là dân tộc Mông đi học trường Phổ thông trung học vùng cao Việt Bắc, ngoài ra các trường Dân tộc nội trú trong tỉnh thu hút 4.665 em học sinh theo học. Ngoài số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, tỉnh còn cử tuyển 69 em dân tộc Mông theo học tại các trường đại học. Toàn tỉnh có 3.098 cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số (chiếm 31% cán bộ công chức của tỉnh), trong đó dân tộc Mông có 424 người chiếm 13,68% cán bộ công chức dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ công chức người Mông ngày càng được tăng cường thêm cả về số lượng và chất lượng, có đủ phẩm chất và năng lực đảm nhận tốt nhiệm vụ được giao. Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường ở vùng đồng bào dân tộc Mông, đến nay những cương vị chủ chốt đều đã có cán bộ là người dân tộc Mông đảm nhiệm. Có thể nói công tác đào tạo cán bộ ở vùng dân tộc Mông đã có bước phát triển vượt bậc, tất cả các bản làng đều có đảng viên.

Từ những việc làm có hiệu quả của tỉnh Hà Giang qua 10 năm thực hiện Chỉ thị 45/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số công tác ở vùng đồng bào dân tộc Mông đã khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn. Nhưng bên cạnh những việc làm đạt kết quả tốt vẫn còn những việc cần tiếp tục nghiên cứu vận dụng cho phù hợp với điều kiện của một tỉnh vùng cao núi đá để tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc Mông hoà nhập vào sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,534


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs