Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/05/2005
Cao Bằng vượt lên khó khăn thực hiện tốt Chương trình xóa đói giảm nghèo


Năm 2003 thị xã Cao bằng đầu tư trên 20 tỷ đồng chỉnh trang đô thị cho thị xã trở thành đô thị sạch đẹp văn minh.năm 2004 này thị xã tiếp tục sửa chữa nâng cấp, làm đẹp các công trình công cộ

Bế Quốc Thịnh

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng

 

Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới có điều kiện kinh tế xã hội ĐBKK, năm 1999 khi bắt đầu triển khai Chương trình 135, trong 138 xã ĐBKK của tỉnh còn 24 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã; 136 xã còn thiếu 724 phòng học; 46 xã chưa có trạm xá xã; 121 xã chưa có điện lưới quốc gia; hầu hết các xã thiếu các công trình nước sạch sinh hoạt và chưa có chợ xã. Các công trình thuỷ lợi chỉ là mương phai đất chưa được kiên cố hoá. Qua 5 năm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở 138 xã ĐBKK và biên giới của tỉnh, trong đó: 181 công trình giao thông; 184 công trình trường học; 64 công trình thuỷ lợi; 34 công trình nước sinh hoạt; 17 công trình điện; 4 công trình chợ xã và 1 trạm xá.

Các dự án trong chương trình được đầu tư đúng địa chỉ, đúng danh mục, không để xảy ra tình trạng thất thoát lớn hoặc tình trạng công trình chất lượng kém. Thông qua kết quả thực hiện các dự án trong chương trình như: Xây dựng các công trình hạ tầng, xây dựng các trung tâm cụm xã, đào tạo cán bộ, phát triển sản xuất... đã tạo ra được nền tảng ban đầu cho phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, ổn định dân cư ở địa bàn các xã ĐBKK; số hộ nghèo hàng năm ở các xã này giảm tương đối nhanh, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân được cải thiện, trật tự xã hội an ninh quốc phòng được giữ vững, bộ mặt các xã ĐBKK có nhiều thay đổi, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước được nâng lên. Thông qua các hoạt động của chương trình, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý được nâng cao, bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở từng địa phương (nhất là cấp xã) hoạt động có nền nếp, hiệu quả hơn, tạo tiền đề để UBND tỉnh phân cấp mạnh hơn cho cơ sở; đã giao cho xã làm chủ đầu tư, thực tế một số xã đã làm tương đối tốt. Công tác quản lý vốn, lồng ghép các nguồn vốn các chương trình, hiệu quả sử dụng đồng vốn đầu tư trên địa phương từng xã được nâng cao. Cụ thể: Về nông nghiệp: Các công trình thuỷ lợi được xây dựng đã nâng cao công suất tưới chủ động cho 2570,5 ha diện tích ruộng. Các lớp khuyến nông, khuyến lâm đã đưa kiến thức đến các hộ nghèo, người dân đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, chuyển đổi cây trồng vật nuôi và đang hình thành các vùng sản xuất hàng hoá. Tổng sản lượng lương thực của tỉnh hàng năm đều tăng và cơ bản đã giải quyết được nhu cầu tự túc lương thực. Về đường giao thông nông thôn: Từ khi triển khai thực hiện Chương trình 135 đến nay, ngoài nguồn vốn Chương trình 135, tỉnh đã tập trung chỉ đạo lồng ghép các nguồn vốn khác để thi công 181 công trình đường giao thông nông thôn, bao gồm cả làm mới, sửa chữa nâng cấp các tuyến đường liên xã (tổng chiều dài 399 km) trong đó có 31 tuyến mở mới từ trung tâm huyện đến xã. Đến cuối năm 2002, tỉnh đã thực hiện hoàn thành mục tiêu 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã, sớm hơn 2 năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá XIV đề ra. Về nước sinh hoạt: Đã đầu tư được 44 công trình với 1445 bể lu cấp nước sinh hoạt cho đồng bào vùng thiếu nước, kết hợp huy động nguồn vốn khác xây dựng thêm nhiều công trình, do đó đã đưa tổng số hộ được dùng nước sinh hoạt của cả tỉnh lên 32.577 hộ, đạt 48,5% tổng số hộ dân nông thôn được dùng nước sạch, trong đó dân số của các xã có điều kiện đặc biệt khó khăn là chủ yếu.

Về điện sinh hoạt: Đã đầu tư được 14 công trình (tính đến hết năm 2002), góp phần đưa lưới điện quốc gia của tỉnh đến được 121 xã với số hộ được dùng điện là 42.000 hộ, đạt tỷ lệ 49%.

Về giáo dục: Năm 1999 các trường học ở 138 xã ĐBKK của tỉnh còn thiếu 724 phòng học và đại đa số trường lớp vẫn còn là nhà tạm. Đến nay đã xây dựng được 202 trường và phân trường với 969 phòng học nhà cấp IV trở lên tại 138 xã ĐBKK của tỉnh bằng nguồn vốn Chương trình 135; do đó cả tỉnh hiện nay đã có 2.500 phòng/5.161 phòng học đạt tiêu chuẩn, đạt tỷ lệ chung là 48,4%, đã thu hút được số trẻ em trong độ tuổi đến trường hàng năm tăng từ 2-3,6%. Về Y tế: Bằng nguồn vốn Chương trình y tế (WB) và vốn Chương trình 135, hiện nay toàn tỉnh đã có 167/189 xã phường có nhà trạm xá kiên cố cấp III và cấp IV góp phần tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, phòng chống các bệnh dịch cho nhân dân. Về văn hoá: 138 xã ĐBKK từ năm 1999 đến nay hàng năm đều được cấp 18 loại báo chí, tạp chí, qua đó đã góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước kiến thức về khoa học kỹ thuật và văn hoá xã hội. Về thị trường nông thôn: Các công trình đã đầu tư theo nguồn vốn Chương trình 135 và trung tâm cụm xã, định canh định cư đã thi công hoàn thành 29 chợ trung tâm cụm xã, đạt tỷ lệ 21% số các xã ĐBKK có chợ. Qua đó làm cho lưu thông hàng hoá trên thị trường chợ xã được cải thiện, các mặt hàng chính sách, vật tư phục vụ sản xuất, đời sống hàng ngày của nhân dân được đẩy đủ, tiêu thụ hàng hoá của nhân dân được thuận lợi. Nhiều xã có công trình, người dân có việc làm đã tăng thu nhập từ tham gia xây dựng công trình, ngoài ra riêng đối tượng dân tộc thiểu số còn được hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ trực tiếp của dự án hỗ trợ đồng bào các xã ĐBKK về hỗ trợ sản xuất và đời sống. Qua thực tế, đời sống của cư dân vùng ĐBKK đã được cải thiện tốt hơn.

Những mục tiêu, chính sách cụ thể tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo cho những năm tới.

Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, tỉnh Cao Bằng quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt những mục tiêu mà Chính phủ đề ra là “Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở các xã ĐBKK miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển của cả nước, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng”.

Mục tiêu cụ thể là: Phấn đấu 80% số xã hoàn thành mục tiêu xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng theo quy định chung của Chương tình 135. Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã ĐBKK xuống còn 22% vào năm 2005. Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các tuyến đường đã mở, nâng cấp các tuyến đường giao thông cũ đến trung tâm các xã, phấn đấu có khoảng 30% tuyến đạt chuẩn đường giao thông nông thôn loại B. 90% số xã có điện và 80% dân số có điện sử dụng; 80% dân cư nông thôn được dùng nước sạch. Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học xoá mù chữ; 10% số xã ĐBKK hoàn thành phổ cập giáo dục. Đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm, nâng cao tỷ lệ sử dụng giống mới, nhất là giống ngô ở các xã ĐBKK lên 80%. Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ xã, phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ xã có trình độ chuyên môn qua đào tạo cơ bản lên 50%.

Để thực hiện hoàn thành thắng lợi các mục tiêu trên tỉnh Cao Bằng tập trung chỉ đạo các cấp các ngành thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

- Rà soát, đánh giá việc hoàn thành cơ sở hạ tầng ở từng xã ĐBKK để có giải pháp đầu tư vốn cho những xã còn nhiều khó khăn hơn, bố trí vốn đầu tư hợp lý cho các nhiệm vụ hỗ trợ sản xuất, tích cực khai hoang mở rộng diện tích, cây trồng vật nuôi có năng suất cao, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.

- Thực hiện tốt dự án quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, dự án phát triển nông lâm nghiệp gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, tập trung đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi có năng suất chất lượng cao, gắn chặt quy hoạch sắp xếp lại khu dân cư với quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chương trình, tập trung đào tạo cán bộ xã thôn bản theo hướng đào tạo cơ bản tập trung, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của chương trình trong những năm còn lại.

- Tiếp tục huy động nguồn lực đầu tư, lồng ghép các chương trình trên cùng địa bàn, chỉ đạo điều hành tốt sử dụng vốn đầu tư để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân các xã ĐBKK và quản lý khai thác sử dụng một cách có hiệu quả các công trình hạ tầng cơ sở đã xây dựng sau khi kết thúc chương trình.

- Tăng cường chỉ đạo sát sao việc thực hiện các nguyên tắc chủ yếu và đồng bộ của chương trình, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.

Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và việc làm trong thời gian tới, tỉnh Cao Bằng có một số kiến nghị như sau:

- Đề nghị Chính phủ và các bộ ngành TW xem xét bổ sung tăng mức vốn hàng năm cho dự án cơ sở hạ tầng các xã ĐBKK, đồng thời tập trung đủ vốn đầu tư cho các trung tâm cụm xã, để địa phương hoàn thành mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã ĐBKK vào năm 2005 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

+ Chính sách hỗ trợ và đầu tư cho các xã khu vực II có tỷ lệ nghèo >25% và những thôn bản có đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng cao thuộc các xã khu vực I và khu vực II.

+ Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào dân tộc ở các xã biên giới.

+ Bố trí vốn để lập và triển khai dự án quy hoạch bố trí lại dân cư trên địa bàn toàn tỉnh và một số nơi cấp thiết; dự án phát triển sản xuất gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm.

Đề nghị Chính phủ tăng thêm vốn để thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước cho các mặt hàng thiết yếu, trợ giá các HTX thực hiện dịch vụ phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và thu mua, bao tiêu sản phẩm của nhân dân các xã đặc biệt khó khăn.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,069


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs