Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chuyện trường lớp ở vùng cao Nam Trà My

 18/06/2009

Một lớp học ở huyện Nam Trà My.

Từ năm 2003, huyện vùng cao Nam Trà My (Quảng Nam) được tái lập sau khi chia tách từ huyện Trà My (cũ). Đây là vùng đồng bào các dân tộc Mnông, Kor, Xơ-đăng... sinh sống. Là huyện nghèo nhất tỉnh, trình độ dân trí thấp, giao thông cách trở nên sự nghiệp “trồng người” gặp nhiều khó khăn, nhất là việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trường lớp...

Huyện nghèo nên trường lớp cũng không đảm bảo. Năm học 2007-2008, cả huyện Nam Trà My có 213 phòng học, trong đó có hơn 80% số phòng học tranh tre nứa lá. Bước vào năm học mới, huyện đã đầu tư kinh phí xây dựng, tu bổ trường lớp tại các địa phương. Nhưng kinh phí eo hẹp, chi phí vận chuyển tốn kém nên chủ yếu là hỗ trợ tấm lợp để các trường vận động nhân dân góp công, tre nứa dựng phòng học cho học sinh. Cô giáo Hồ Thị Lan, giáo viên “cắm bản” hơn 10 năm ở điểm trường nóc Măng Lùng, xã Trà Linh cho biết: “Đời sống của đồng bào ở đây quá nghèo. Đến mùa rẫy, nhiều học sinh phải nghỉ học để phụ giúp gia đình. Việc vận động con em đồng bào ra lớp gặp nhiều khó khăn, trong khi đó trường lớp không đảm bảo, đường đi học xa xôi, cách trở...”.

Không riêng gì các điểm trường ở những nóc heo hút, mà hầu hết các trường trên địa bàn huyện cũng chịu cảnh “trường chưa ra trường, lớp chưa ra lớp”. Ngay vùng thấp của huyện là xã Trà Dơn, việc trường lớp cũng còn tạm bợ. Trường THCS xã có 47 lớp, trong đó, có 10 lớp khối THCS với 283 học sinh và 37 lớp tiểu học với 534 học sinh. Ngoài ngôi trường trung tâm xã và điểm trường ở khu vực đồi Dơn, 15 điểm trường còn lại đều rất sơ sài, tạm bợ. Hầu hết các điểm trường ở xa trường trung tâm, đi bộ cả ngày mới đến. Thầy giáo Lê Thanh Trà, Hiệu trưởng Trường THCS xã Trà Dơn cho biết: “Năm học 2007-2008, tình hình trường lớp cũng không hơn gì trước. Riêng năm nay, huyện hỗ trợ 50 triệu đồng để mua tôn làm tạm khu nội trú cho các em khối lớp THCS có nhà ở xa. Có khu nội trú, học sinh đỡ vất vả trong mùa mưa lũ”.

Dù được xây dựng khá khang trang, nhưng Trường THPT Nam Trà My mới chỉ có 10 phòng học. Ngoài 2 phòng làm việc và 1 phòng máy vi tính, trường chỉ còn 7 phòng cho 14 lớp với 725 học sinh. Theo thầy Phan Văn Bông, Hiệu trưởng Trường THPT Nam Trà My cho biết: Mỗi lớp tại trường THPT huyện có trên 50 học sinh, tức là quá tải 20 em so với tiêu chuẩn khu vực miền núi. Trường lớp không đảm bảo kéo theo chất lượng dạy và học cũng không đảm bảo.

Mặc dù trường lớp ở nhiều địa phương không đảm bảo nhưng việc kiên cố hóa trường học cũng rất nan giải. Ông Lê Ngọc Kích, Phó Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My cho biết: Theo tiêu chí của Bộ Giáo dục- Đào tạo (GD-ĐT), Trà My có 230/313 phòng học không đúng tiêu chuẩn. Hai năm qua, chương trình kiên cố hoá trường học với số tiền hơn 500 triệu đồng, đã đưa xuống huyện nhưng được trả về tỉnh. Chi phí vật liệu lên cao, chi phí vận chuyển lớn nên số tiền trên không đủ để làm với giá thành 80 triệu đồng/phòng.

Số tiền “kiên cố hóa trường học” huyện Nam Trà My trả lại là tiền của chương trình xây trường cho trẻ em vùng đặc biệt khó khăn, do Ngân hàng thế giới tài trợ vốn, Sở GD-ĐT Quảng Nam làm chủ đầu tư.

Đã có tiền trong tay, nhưng địa phương lại “vướng” cách thức đầu tư và quy cách xây dựng. Bởi theo đúng quy cách, phòng học phải đổ sàn, có phòng giáo viên ở, công trình vệ sinh phải có 6 phòng (với một lớp chừng 30 em, thì quá lãng phí?). Trong khi đó, rất nhiều trường trên địa bàn huyện lại tạm bợ, không có nhà vệ sinh... Ông Lê Ngọc Kích cho biết: “Với cách phân bổ kinh phí vùng đồng bằng cũng như vùng núi cao như Sở GD-ĐT Quảng Nam thì địa phương không thể xây trường được.

Không thể áp dụng một “ba rem” chung cho cả tỉnh, bởi Nam Trà My và các huyện miền núi có đặc thù riêng. Cách thức xây dựng trường phải phù hợp với con em đồng bào, điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương. Thực tế là những trường nằm trong dự án ở các xã Trà Dơn, Trà Vân, Trà Mai... rất lãng phí. Nhu cầu sử dụng ít, phòng vệ sinh đành bỏ không; nước sinh hoạt chưa được đầu tư đồng bộ cùng với việc xây dựng trường”.

Chuyện trường lớp như thế nên việc học của con em đồng bào các dân tộc Mnông, Xơ-đăng, Kor... vùng núi cao dưới chân núi Ngọk Linh, vốn đã khó nay còn khó khăn hơn. Biết đến bao giờ huyện vùng cao Nam Trà My - Quảng Nam mới xóa hết phòng học tranh tre nứa lá?

Bài và ảnh: Lê Phước Lan Nhi

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • “Bà Mín thổ cẩm” (06/2009)
  •  
  • Tuyên dương “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác” khu vực Tây Nguyên năm 2007 (06/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,284,988


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs