Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Văn hoá bảo tồn, phát huy và phát triển


Các nghệ nhân dân tộc Giẻ Triêng.

Trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ ở cấp độ toàn cầu như hiện nay, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không chỉ quan tâm đến lĩnh vực kinh tế như trước đây.

Chúng ta đang ngày càng có những nhận thức mới về tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển nói chung. Đó là cái bản sắc làm nên cái riêng trong phong cách mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong cộng đồng thế giới. Quá trình giao lưu tạo ra trong nền văn hóa sự xung đột tự nhiên giữa cái mới và cái cũ, cái truyền thống và cái hiện đại. Văn hóa truyền thống cần được bảo tồn, nhưng bảo tồn vẫn phải đảm bảo để quốc gia, dân tộc phát triển. Sự phát triển là tất nhiên, nhưng phát triển không được đối lập hoặc phủ định sạch trơn những giá trị văn hóa được sáng tạo, bồi đắp, và gìn giữ qua ngàn đời.

 Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đã chỉ rõ chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Việc thực hiện chủ trương, chính sách này đang thu được những thành công nhất định. ý thức gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc thống nhất trong đa dạng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, còn có những ý kiến khác nhau trong việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc. Có ý kiến cho rằng, việc bảo tồn nền văn hóa dân tộc là giữ nguyên hiện trạng của nền văn hóa đó như trong lịch sử, càng xưa càng tốt. Quan niệm này phải chăng có sự nhầm lẫn giữa “bảo tồn” và “bảo tàng”. Bảo tàng làm công tác lưu giữ những giá trị văn hóa dưới dạng tĩnh, để nhiều thế hệ người có thể cùng đến tìm hiểu và nhớ về những cái đã qua. Còn bảo tồn là gắn với đời sống của cộng đồng. Mà đời sống luôn luôn có sự biến đổi, phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng, và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.

 ý tưởng người viết bài này là muốn bày tỏ một cái nhìn về mối quan hệ giữa văn hoá với việc bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá. Đây là những vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn cuộc sống.

 Văn hoá được hình thành trong quá trình lịch sử, chứ không phải là được hình thành trong khoảnh khắc. Khi ta nói văn hoá Đông Nam á là văn hoá lúa nước, hoặc truyền thống văn hoá các dân tộc Tày, Nùng, Thái là ở nhà sàn, là chúng ta tổng kết cả một quá trình lịch sử, là đưa ra những nhận xét đi vào bản chất của sự vật, sự việc. Do đó có thể nói rằng, bất kỳ một nhận xét nào về văn hoá các dân tộc đều được nhìn nhận từ lịch sử, đã được lịch sử khẳng định và mang tính bản chất.

 Văn hoá gắn liền với cuộc sống loài người, do loài người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống loài người. Văn hoá là nhu cầu sống của loài người. Dân tộc nào trong quá trình tồn tại cũng đều có nhu cầu ăn, ở, mặc; có tiếng nói, tín ngưỡng, lễ hội; có các nhu cầu về cưới xin, ma chay... Do đó, chúng ta khẳng định rằng cộng đồng dân tộc nào cũng có văn hoá. Không có cộng đồng người nào lại không có văn hoá và không có văn hoá nào tồn tại ngoài cộng đồng dân tộc.

 Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần của hiện vật, được thể hiện qua hình thức và nội dung của hiện vật đó. Việc phân biệt giá trị vật chất và giá trị tinh thần là theo nghĩa tương đối, bởi vì mọi hiện vật văn hoá hoặc hiện tượng văn hoá đều chứa trong mình cả giá trị vật chất và cả giá trị tinh thần.

 Nhà ở, quần áo mặc... thuộc văn hoá vật chất, nhưng khi chuẩn bị dựng ngôi nhà, chủ nhà không chỉ lo tính toán vật liệu, gỗ, tre, nứa... mà còn phải tính toán đến các yếu tố tinh thần. Yếu tố tinh thần thể hiện ở chỗ, trước khi dựng ngôi nhà chủ nhà đã có ý tưởng ngôi nhà sẽ được dựng như thế nào: chọn hướng nhà Đông Nam hay Tây Nam... làm nhà sàn hay nhà đất; hai mái hay bốn mái, ba gian hay năm gian, đặt bếp ở đâu, đặt bàn thờ ở nơi nào trong nhà, chỗ nào là nơi ngủ của các con trai, gái, chỗ nào là nơi tiếp khách... Những ý tưởng này chính là những giá trị tinh thần của ngôi nhà. Phải rõ những ý tưởng này, những giá trị tinh thần này thì ngôi nhà mới bắt đầu được khởi công xây dựng. Bộ quần áo mặc hàng ngày được làm từ vật chất là vải, nhưng để có bộ quần áo, người ta còn phải chọn kiểu dáng may: may cộc tay hay may dài tay, may áo bà ba hay may áo sơ mi, may kiểu ký giả hay may kiểu complet; chọn mầu trắng sáng sủa hay mầu tím chung thuỷ, mầu xanh lơ cho mát mẻ hay mầu vàng mỡ gà quý phái sang trọng... Chính những ý tưởng thể hiện trong sự lựa chọn này là những giá trị tinh thần của bộ quần áo. Và như vậy, không chỉ cần có vải, mà còn cần có ý tưởng về kiểu dáng may, về mầu thì mới may được bộ quần áo mặc. Ngày nay, có nhiều trường hợp người ta phá ngôi nhà cũ để xây ngôi nhà mới vì hình thức thiết kế ngôi nhà đó không đẹp nữa, không đáp ứng được giá trị tinh thần cho ông chủ nữa; người ta may quần áo mới không phải vì thiếu quần áo mặc, mà vì kiểu dáng và mầu sắc của các bộ quần áo hiện có không thích hợp với khiếu thẩm mỹ của chủ nó nữa.

 Những ý tưởng nêu trên chính là giá trị tinh thần của ngôi nhà và bộ trang phục, và giá trị này là một bộ phận không thể thiếu khi người ta dựng nhà hoặc may trang phục.

 Tiếng nói và tín ngưỡng là những hiện tượng văn hoá tinh thần rất đậm nét. Tuy nhiên trong những hiện tượng tinh thần này lại chứa đựng những yếu tố vật chất làm thành nền tảng cho sự phát sinh và phát triển nó. Đó chính là những tồn tại xã hội làm cơ sở cho tiếng nói, tín ngưỡng xuất hiện và tồn tại.

Với cư dân sinh sống ở miền rừng núi thì cơ sở xuất hiện và tồn tại tiếng nói của họ là những hoạt động của con người liên quan đến rừng núi, cây cỏ... cho nên trong tiếng nói của họ có nhiều từ về cây cỏ; về những loài động vật sinh sống trên rừng. Còn với cư dân sinh sống ở miền sông nước thì đương nhiên cơ sở cho sự xuất hiện tiếng nói của họ là sông nước và những hoạt động của con người liên quan đến sông nước, cho nên trong tiếng nói của cư dân có nhiều từ liên quan đến các hiện tượng sông nước, và nhiều từ chỉ các động vật sinh sống ở dưới nước...

 Về tín ngưỡng, với những cư dân sinh sống ở miền núi, trong các nghi lễ tôn giáo có thờ thần nông, thần núi, thần sông, thần gia súc..., có tổ chức các lễ hội “hạ điền”, “lùng tùng”, “roóng pọc”, cúng thổ công... bởi vì họ sinh sống bằng nghề nông trồng trọt, chăn nuôi. Chính hoạt động trồng trọt, chăn nuôi là cơ sở vật chất của các sinh hoạt tinh thần: thờ cúng, lễ hội. Còn việc thờ Ông, tổ chức lễ “nghinh Ông” của các cư dân sinh sống ở các cửa sông ven biển lại có cơ sở tiền đề là nghề đánh bắt thuỷ hải sản.

 Qua những thí dụ nêu trên về nhà ở, ăn mặc, tiếng nói, tôn giáo ta thấy mặc dù có sự phân chia văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, nhưng trong thực tiễn cuộc sống mỗi hiện tượng văn hoá đều chứa trong bản thân mình cả yếu tố vật chất và cả yếu tố tinh thần. Có thể nói các yếu tố vật chất và tinh thần là hai mặt làm nên văn hoá.

 Văn hoá và văn minh là hai khái niệm khác nhau. Văn hoá chỉ sự khác nhau, còn văn minh lại chỉ sự hơn kém.

 Sự khác nhau trong văn hoá là kết quả ứng xử với tự nhiên và xã hội của các dân tộc cùng một trình độ phát triển. Còn sự hơn kém trong văn minh là kết quả ứng dụng các thành tựu kỹ thuật, công nghệ của các dân tộc vào lao động sản xuất và đời sống.

 Cùng một trình độ phát triển tiền công nghiệp, các dân tộc cư trú ở các vùng miền địa lý, địa hình khác nhau có cách ứng xử tự nhiên và xã hội khác nhau, tạo nên nét bản sắc dân tộc khác nhau. Cùng là cư dân nông nghiệp dùng súc vật để làm sức kéo, nhưng người Kinh ở đồng bằng Bắc bộ chủ yếu dùng con trâu, còn cư dân Khmer ở châu thổ sông Mê Kông thì chủ yếu dùng con bò, nhiều dân tộc trồng lúa mì ở châu Âu lại chủ yếu dùng con ngựa. Các dân tộc đều tự túc vải mặc, tự may lấy quần áo, nhưng các dân tộc Tày, Nùng, Thái thích màu chàm, dân tộc Kinh ở đồng bằng Bắc bộ thích màu nâu, còn dân tộc Chăm lại thích màu trắng tự nhiên của vải bông. Về kiểu dáng quần áo, dân tộc Thái thích mặc bó vào người làm nổi lên đường nét cơ thể người phụ nữ, còn các dân tộc Mông, Dao lại thích mặc rộng và lấy các hoạ tiết hoa văn để làm tôn vẻ đẹp của người phụ nữ.

 Có hai yếu tố cơ bản làm tiền đề cho sự phát sinh và phát triển văn hoá. Đó là môi trường địa lý tư nhiên (môi trường tự nhiên) và môi trường lịch sử nhân văn (môi trường xã hội).

 Môi trường địa lý tự nhiên là cái có sẵn, có trước khi con người tìm đến, khai khẩn làm ăn lập nghiệp. Môi trường địa lý tự nhiên là một trong hai yếu tố quan trọng làm tiền đề cho sự phát sinh và phát triển văn hoá mưu sinh thời kỳ tiền công nghiệp. Căn cứ vào điều kiện địa hình, tài nguyên thiên nhiên và khí hậu cụ thể, con người định hướng mưu sinh cho phù hợp. Từ góc nhìn môi trường địa lý tự nhiên, địa hình, môi trường địa lý tự nhiên nước ta có thể chia làm bốn vùng. Đó là vùng núi cao, vùng núi thấp, vùng đồng bằng, và vùng ven biển, hải đảo. Với từng vùng địa lý tự nhiên khác nhau con người sử dụng các phương thức mưu sinh khác nhau.

 Với vùng núi cao phương thức canh tác chủ yếu là trồng trọt khô cạn. Phương thức trồng trọt khô cạn là giải pháp ưu việt nhất để khai khẩn đất đồi núi cao. Trên vùng núi cao, đã hàng nghìn năm nay đều có các dân tộc sinh sống. Các dân tộc dù đến trước, hay đến sau, dù từ vừng núi thấp hay vùng đồng bằng quen với canh tác lúa nước, nhưng khi lên đến mảnh đất vùng núi cao sinh cơ lập nghiệp đều phải chọn phương thức canh tác sản xuất trồng trọt khô cạn là chính. Bởi vì trên đồi núi cao thường thiếu nước, đất dốc khó khai khẩn thành ruộng nước như ở vùng đồng bằng. Đương nhiên, đồng bào vùng cao cũng hiểu giá trị ổn định của canh tác ruộng nước, cho nên nhiều nơi ở vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Lào Cai chúng ta thấy những “cánh đồng” ruộng bậc thang trên các sườn đồi cao vút.

 Với vùng núi thấp, đồng bào vừa trồng cấy lúa nước ở thung lũng lòng chảo, ở hạ lưu các dòng sông, lại vừa trồng trọt khô cạn trên các sườn đồi. Cư dân ở vùng này thường thông thạo cả hai cách canh tác. Tuỳ từng vùng cụ thể, nơi nào thung lũng lòng chảo rộng như Điện Biên (tỉnh Điện Biên), Nước Hai (tỉnh Cao Bằng), Thất Khê (tỉnh Lạng Sơn) thì đồng bào khai khẩn nhiều ruộng nước, làm ít nương; còn nơi nào nhiều đồi núi thì làm nương nhiều, làm ruộng ít. Khi sẵn có nước thì một số vật nuôi như vịt, ngỗng cũng được đồng bào nuôi phổ biến. Có nơi đồng bào còn nuôi cả cá ruộng.

 Với vùng đồng bằng, canh tác ruộng nước được khẳng định như một giải pháp hiệu quả nhất trong việc mưu sinh của cư dân sinh sống ở vùng đất này. Chính vì vậy một hệ thống đê điều, hệ thống mương máng thuỷ nông chằng chịt trên các vùng đồng bằng Bắc Trung Nam đã được hình thành từ xa xưa trong lịch sử. Hệ thống mương máng thuỷ nông này có nhiệm vụ phục vụ lượng nước theo nhu cầu của cây lúa trong từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau.

 Với cư dân sinh sống ở vùng ven biển, hải đảo thì nghề kiếm sống chính của họ lại là đánh bắt thuỷ hải sản. Môi trường địa lý tự nhiên không cho phép họ làm nghề trồng trọt như các cư dân sinh sống trong nội địa. Họ buộc phải đánh bắt thuỷ hải sản. Việc đánh bắt thuỷ hải sản không tuân theo lịch thời tiết như nghề nông, mà họ tuân theo lịch con nước.

 Môi trường địa lý tự nhiên quy định hoạt động mưu sinh: trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm... của con người. Hoạt động mưu sinh đó được đánh giá cao khi nó đạt hiệu quả lớn, tức là mang lại cho các dân tộc cuộc sống sung túc, phồn vinh. Hoạt động mưu sinh nhằm đạt cuộc sống sung túc, phồn vinh ngày càng cao hơn luôn là mục tiêu là khát vọng văn hóa, là cái đích vươn tới của mọi dân tộc mọi chế độ xã hội, mọi thời đại. Chính những hiệu quả của hoạt động mưu sinh lại tác động mạnh mẽ đến phong tục tập quán trong đời sống của con người. Vì vậy hoạt động mưu sinh là một trong hai tiền đề của văn hoá các dân tộc; đồng thời là tiền đề của các mối quan hệ xã hội khác trong một tộc người và giữa các tộc người.

 Môi trường lịch sử nhân văn bao gồm quan hệ sự ứng xử giữa các thành viên trong một tộc người và sự ứng xử giữa các tộc người với nhau.

 ứng xử giữa các thành viên trong tộc người được hình thành từ quá khứ xa xưa trong lịch sử, trở thành phong tục tập quán, thành chất gắn kết giữa các thành viên trong tộc người với nhau. Những phong tục tập quán đó chính là văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội. Trong quá trình phát triển của dân tộc một số phong tục tập quán phát triển thành lệ tục, tiến xa hơn nữa là thành luật tục. Phong tục tập quán dân tộc là thói quen trong sản xuất và trong sinh hoạt thường ngày được hình thành một cách tự nhiên, trở thành nếp sống của dân tộc, được mọi người công nhận và tự giác làm theo như: ở nhà sàn hay nhà đất, mặc áo dài hay áo ngắn, mặc váy hay mặc quần, ăn ngô hay ăn gạo, ăn lúa mì là chính... Lệ tục dân tộc là những điều đã được dân tộc đó quy định từ trước để thực hiện như: tục cưới xin là phải có người làm mối, phải qua các bước ăn hỏi, phải tổ chức lễ cưới, phải kính già, yêu trẻ... Luật tục dân tộc là những quy định của dân tộc mang tính bắt buộc phải thực hiện như: không được trộm cắp, cướp của, không được giết người, không được chửa hoang... Đằng sau những quy định nêu trên, còn có những ứng xử khác nhau khi có vi phạm. Vi phạm lệ tục thì dư luận trong cộng đồng chê bai, đánh giá về đạo đức thiếu nghiêm túc, thiếu trách nhiệm. Còn khi có vi phạm về luật tục thì có chế tài xử lý, có các hình phạt thích hợp. Đa số chế tài xử lý các vi phạm luật tục là rất nặng như nợ máu phải đền máu, hay trộm một phải đền mười...

 ứng xử giữa các tộc người được hình thành trên cơ sở phát triển cộng đồng, mở rộng quan hệ tiếp xúc giữa các tộc người khác nhau. Khi con người có cơ hội giao tiếp với nhau thì họ sẽ giao lưu học hỏi vay mượn những cái hay, cái đẹp trong phong tục tập quán, lệ tục, luật tục của nhau, và việc đó tác động đến sự biến đổi, sự phát triển của phong tục tập quán, lệ tục, luật tục của dân tộc. Thái độ ứng xử giao lưu, học hỏi dẫn đến sự biến đổi về văn hoá dân tộc và biến đổi đó là quy luật phát triển của văn hoá, của xã hội loài người. Sự biến đổi diễn ra thường ngày ở mọi dân tộc. Nhìn chung, khi có sự tiếp xúc tộc người, có sự ứng xử với văn hoá người khác tộc thì diễn ra hiện tượng giao thoa, học hỏi, vay mượn văn hoá của nhau. Sự vay mượn không phải diễn ra theo một chiều, mà luôn theo hai chiều: mượn và cho mượn văn hoá. Tuy nhiên hiện tượng mượn và cho mượn này thường diễn ra theo quy luật không “công bằng”, nghĩa là văn hoá của dân tộc phát triển hơn, đạt trình độ văn minh cao hơn sẽ có tác động mạnh mẽ vào văn hoá của dân tộc có trình độ phát triển thấp hơn. Văn hoá phát triển cao hơn, trình độ văn minh cao hơn của một xã hội được thể hiện chủ yếu ở cơ chế chính sách tổ chức quản lý xã hội và sự ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống của xã hội đó.

 Bảo tồn và phát triển văn hoá là việc diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc. Mỗi cá nhân, mỗi dân tộc sống theo một tập quán, theo nếp sống văn hoá của mình. Điều này có nghĩa là họ đang bảo tồn đặc trưng văn hoá của tộc người họ. Mặt khác, cũng hàng ngày mỗi cá nhân, mỗi dân tộc cũng luôn tính toán thay đổi tập quán, nếp sống cho phù hợp với tiền đề văn hoá mới. Và điều này lại có nghĩa là họ đang tham gia vào quá trình phát triển văn hoá. Bảo tồn văn hoá và phát triển văn hoá là hai mặt của cuộc sống văn hoá. Bởi như trên đã trình bày, văn hoá có tiền đề cho phát sinh và phát triển. Khi tiền đề văn hoá thay đổi thì đương nhiên văn hoá cũng phải biến đổi theo cho phù hợp.

 Sau Cách mạng tháng Tám 1945 và nhất là sau đổi mới (1986), chuyển đổi cơ chế quản lý xã hội từ hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, mở cửa sẵn sàng làm bạn với các nước và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, kinh tế, xã hội nước ta đã có những chuyển biến cực kỳ mạnh mẽ, đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào trên mọi lĩnh vực, đời sống kinh tế, văn hoá của người dân có những chuyền biến rất lớn.

 Chính sách mở cửa làm bạn với tất cả các nước đã mở đường cho hàng hoá tiêu dùng trong và ngoài nước tràn vào nông thôn, làm thức tỉnh những vùng quê xa xôi hẻo lánh, kích thích tâm lý nông dân hăng hái sản xuất nhiều nông sản để bán lấy tiền mua hàng tiêu dùng. Mua hàng hoá, nhất là hàng ngoại là tiếp xúc với văn hoá nước ngoài, là con đường dẫn đến giao lưu, học hỏi, vay mượn văn hoá nước ngoài.

 Đường giao thông ô tô, máy móc nông nghiệp, điện lưới quốc gia, cùng sóng điện thoại di động, hàng tiêu dùng tràn vào nông thôn là những cơ sở vật chất đầu tiên rất cơ bản cho sự phát triển xã hội.

Những cơ sở vật chất này đã làm thay đổi cuộc sống ở nhiều vùng quê. Trong nông thôn nhiều gia đình có của ăn của để mua được xe máy, xe công nông, mua máy cày, máy bơm, máy xay xát, mua điện thoại di động... để sử dụng. Nhịp sống ở các vùng quê sôi động hẳn lên, cường độ công việc cũng tăng lên. Và đây chính là một tiền đề quan trọng làm nền tảng cho những biến đổi về văn hoá dân tộc trong nông thôn.

 Những biến đổi được diễn ra trong nông thôn thuộc các lĩnh vực văn hoá vật chất, trong văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội. Trong đầu nhiều người dân nông thôn xuất hiện những ý tưởng, những tính toán về cuộc sống của mình và của con cháu mình sao cho phù hợp với sự biến đổi kinh tế - xã hội của thời đại. Có thể nêu ra một số ý tưởng như người dân muốn dựng nhà ở gần đường ô tô, muốn ra ở thị trấn... để tiện đi lại, tiện giao tiếp; muốn sử dụng các vật liệu công nghiệp để làm nhà vì nó tiện lợi, sẵn có, lại bền hơn gỗ, tre, nứa... Người dân ngày càng thích mặc quần áo may sẵn bán ở chợ; thích uống đồ uống công nghiệp như cocacola, bia,... muốn đi xe máy cho nhanh, muốn sử dụng điện thoại cho tiện đỡ công đi lại tốn thời gian. Những ý tưởng của người dân đang được triển khai một cách phổ biến, và đang được hiện thực hoá với tốc độ khá nhanh làm cho văn hoá các dân tộc phát triển theo hướng ngày càng hiện đại hoá.

 Cơ chế thị trường, mở cửa làm bạn với các nước, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tác động mạnh mẽ đến đời sống nói chung và văn hoá của các dân tộc nói riêng, làm mai một một số truyền thống văn hoá tốt đẹp và tiếp nhận một số nét văn hoá ngoại lai. Trong văn hoá ngoại lai có những nhân tố tích cực, nhưng cũng có cả những yếu tố không phù hợp với lối sống, phong tục, đạo đức của người Việt Nam. Đây là thực trạng của cuộc sống mà chúng ta phải đối mặt.

 Trên cơ sở phân tích các tiền đề văn hoá và mối quan hệ giữa bảo tồn văn hoá, phát huy và phát triển văn hoá; căn cứ vào thực tiễn diễn biến văn hoá trong đời sống văn hoá ở nông thôn hiện nay, chúng tôi cho rằng cách bảo tồn văn hoá tốt nhất là dựa vào người dân - chủ nhân sáng tạo và bảo tồn văn hoá, làm cho người dân có cuộc sống vật chất sung túc. Khi “có thực” người dân “sẽ vực được đạo”.

 Kinh tế là tiền đề vật chất của văn hoá và văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Vì vậy nói đến văn hoá là nói đến giá trị tinh thần, bảo tồn văn hoá là bảo tồn giá trị tinh thần, bảo tồn ý tưởng cao đẹp mà văn hoá của mọi dân tộc luôn ước mơ vươn tới. Do đó định hướng chung về bảo tồn văn hoá dân tộc phải chăng một mặt cần phát triển kinh tế-tiền đề của văn hoá, cụ thể là: Chấn hưng kinh tế, giúp dân làm giàu, mặt khác cần phát triển văn hoá theo tinh thần kế thừa bản sắc văn hoá dân tộc, cụ thể là: Hiện đại hoá văn hoá dân tộc, dân tộc hoá văn hoá ngoại lai.

GS. Hoàng Nam
Nùng a Thảo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,396


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs