Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Mười năm (1997-2006) xây dựng"trqng tâm%cụm xã ở vùng dân tộc thiểu số
Miền núi nước ta chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước, với số dân hơn 20 triệu người thuộc 54 dân tộc anh em, trong đó có trên 10 triệu đồng bào dân tộc thiểu số.

Đây là địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại, giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các bản làng, xã với nhau rất khó khăn. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế, xã hội miền núi; Chính phủ ban hành Quyết định số 72/HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế, xã hội miền núi đã khuyến khích việc hình thành các trung tâm công nghiệp thương mại dịch vụ tại các thị trấn, thị tứ, các trục đường giao thông ở miền núi để đưa hoạt động kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, dịch vụ sản xuất và đời sống phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân.

 Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ đầu năm 1994, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (nay là Uỷ ban Dân tộc) đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, đề nghị bố trí kinh phí và chỉ đạo 15 tỉnh lập dự án khả thi xây dựng Trung tâm cụm xã (TTCX); đồng thời chỉ đạo xây dựng thí điểm TTCX Tà Rụt thuộc tỉnh Quảng Trị. Kết quả đã xây dựng TTCX Tà Rụt được đánh giá là thành công, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội đối với đồng bào các xã trong khu vực. Năm 1996, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi tiếp tục phối hợp các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo xây dựng thí điểm một số TTCX: Bản Bó - Thái Học (Cao Bằng); Phố Bảng (Hà Giang); Ba Sơn (Lạng Sơn). Từ kết quả đạt được và yêu cầu của thực tiễn, ngày 13 tháng 01 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 35/TTg phê duyệt chương trình xây dựng Trung tâm cụm xã với mục tiêu: Xây dựng các TTCX nhằm tạo ra các cụm kinh tế, xã hội, văn hoá, nơi giao lưu hàng hoá của đồng bào các dân tộc miền núi, vùng cao. Từng bước xoá dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu về kinh tế-xã hội để đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các hoạt động thông tin về kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị đến gần nơi đồng bào các dân tộc đang cư trú; tăng cường sự chỉ đạo sát sao của huyện, tỉnh, trung ương đối với cơ sở; thúc đẩy các hoạt động văn hoá, xã hội trong tiểu vùng, tạo thuận lợi cho sự giao lưu giữa các bản làng, xã trong tiểu vùng với các đô thị để phát huy sức mạnh cộng đồng. TTCX là hạt nhân thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng, củng cố và nâng cao lòng tin của đồng bào các dân tộc đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kết các dân tộc, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Trung tâm cụm xã được đầu tư xây dựng 10 loại công trình: Hệ thống giao thông trung tâm cụm xã; hệ thống cấp, thoát nước cho trung tâm cụm xã; điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt; trụ sở Uỷ ban nhân dân và các ban ngành của xã sở tại; phòng khám đa khoa, chữa bệnh cho cụm xã; trường học bán trú và trường phổ thông cơ sở; cửa hàng thương nghiệp, chợ, ngân hàng, bưu điện, bến xe; trạm khuyến nông, khuyến lâm; cơ sở chế biến, sản xuất vật liệu, lò rèn, mộc, đan lát và Trạm truyền thanh, truyền hình. Tổng vốn đầu tư cho 500 trung tâm cụm xã là 2.500 tỷ đồng, từ Ngân sách Nhà nước; vốn vay tín dụng; vốn huy động lồng ghép các chương trình dự án, kể cả huy động đóng góp của nhân dân, của cộng đồng, của các tổ chức kinh tế.

 Vừa qua Hội đồng Dân tộc của Quốc hội phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội của các tỉnh tiến hành giám sát đồng loạt trên 52 tỉnh, thành phố được thụ hưởng chính sách đã đánh giá cao kết quả đạt được, thể hiện: Sau 10 năm triển khai thực hiện, đến nay đã và đang khởi công xây dựng 630 trung tâm cụm xã, trong đó: Đã hoàn thành cơ bản trên 400 trung tâm, xây dựng 3.135 công trình với cơ cấu đầu tư: Giao thông: 34,1%; trường học: 22.37%; chợ: 14,5%; phòng khám đa khoa: 10.68%; nước sinh hoạt: 5,2%; điện: 4,062%; trụ sở: 2,7%; nhà văn hoá: 1,75%; tạo mặt bằng: 0,91%; trạm phát sóng truyền hình: 0,8%; điểm bưu điện: 0,07%; công trình khác: 2,9%. Tổng vốn đã đầu tư là 2.311,67 tỷ đồng, đạt 92% so với kế hoạch.

Một số TTCX tiêu biểu như: Tà Rụt (Quảng Trị), Ba Vì (Quảng Ngãi), Phó Bảng (Hà Giang), Bản Bó (Cao Bằng), Mỏ Trạng (Bắc Giang), Ba Sơn (Lạng Sơn), Châu Thôn (Nghệ An), Phố Đoàn (Thanh Hoá), Hoá Tiến (Quảng Bình), Cư Đrăm (Đắc Lắc), Ia Lang (Gia Lai), Viên Bình (Sóc Trăng). Một số TTCX đã trở thành thị trấn các huyện mới chia tách như: Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn; Trà Phong, huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum; Phước Đại, huyện Bác ái, tỉnh Ninh Thuận… Tại các TTCX có nhiều hộ gia đình đã bước đầu có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ, hoạt động dịch vụ và trao đổi hàng hóa phát triển hơn. Do được đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng quan trọng, diện mạo của các xã vùng cao, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn đã đổi thay rõ rệt, TTCX đã trở thành nơi giao lưu khu vực, phát triển nhất của cả vùng. Có đường giao thông, trường học bán trú, điện sinh hoạt, phát thanh, truyền hình, có khu dân cư, có chợ... nên đã khá thuận tiện trong mọi hoạt động của đời sống xã hội và phát triển kinh tế trong vùng. Một số TTCX đã diễn ra hoạt động thu mua, sơ chế các sản phẩm sản xuất tại chỗ. Một số chợ văn hóa, chợ kết hợp với bến xe đã có hoạt động khá sôi động. Công trình nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng đã hoạt động tốt, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống các dân tộc. Công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa các bệnh thông thường, phòng chống dịch được duy trì. Công tác vận động, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thuận lợi, gần dân hơn. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường tại các xã có TTCX đều đạt trên 97%; trên 95% số xã đã có điện sinh hoạt đến trung tâm xã và trên 80% số hộ gia đình đã được sử dụng điện; trên 90% số hộ gia đình đã được phủ sóng phát thanh, trên 75% số hộ gia đình đã được phủ sóng truyền hình. Tại khu TTCX, đã tập trung dân cư, bước đầu hình thành diện mạo thị tứ ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là hiệu quả quan trọng do chương trình TTCX đem lại, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng đặc biệt khó khăn, từng bước thực hiện mục tiêu giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

 Bên cạnh những kết quả đã đạt được còn một số tồn tại: Công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của các Bộ, ngành chưa được thường xuyên, liên tục nên chưa kịp thời phát hiện và chấn chỉnh sai sót của cơ sở; có nơi còn để xảy ra thất thoát, lãng phí; công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách xây dựng TTCX chưa được thực hiện tốt. Một số địa phương chưa coi trọng công tác quy hoạch, chưa tính đến hiệu quả và tính khả thi; không ít nơi quy hoạch sơ sài, thiếu tập trung. Về các hạng mục đầu tư, một số địa phương dùng ngân sách Trung ương đầu tư cho công trình không thuộc danh mục đầu tư của chương trình; số lượng TTCX các địa phương tự quy hoạch tăng gần gấp đôi so với kế hoạch của chương trình (954/500TT); chất lượng và hiệu quả của một số công trình ở vài địa phương còn thấp do khi thiết kế, thi công chưa gắn kết với phong lục, tập quán và văn hóa của đồng bào. Huy động các nguồn lực ngoài ngân sách Trung ương còn ít, chưa chủ động huy động nguồn lực và chậm lồng ghép với các chương trình dự án khác trên địa bàn. Tiến độ thực hiện dự án còn chậm, một mặt do ngân sách Trung ương bố trí còn ít, dàn trải (gần 10 năm chưa bố trì đủ 2500 tỷ VNĐ theo kế hoạch).

Công tác quản lý, khai thác và sử dụng công trình ở một số địa phương chưa được chú trọng nên chưa phát huy hết hiệu quả kinh tế, xã hội của công trình, nhất là chợ, trạm xá, nước sinh hoạt... hiện nay có công trình đã xuống cấp, hư hỏng.

 Sở dĩ còn tồn tại là do việc ban hành các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành có một số nội dung chưa chặt chẽ và thống nhất giữa các văn bản; các cấp, các ngành, đoàn thể ở địa phương chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội của dự án nên còn lúng túng trong tổ chức thực hiện. Có nhiều hạng mục công trình trong một dự án, đòi hỏi thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản chặt chẽ trong khi đó năng lực quản lý của cán bộ xã, huyện còn hạn chế nên việc tổ chức triển khai chưa đáp ứng yêu cầu. Nhu cầu đầu tư lớn, trong khi đó vốn đầu tư còn ít, chưa tương xứng với mục tiêu, nhiệm vụ của dự án. Một số địa phương còn sử dụng vốn sai mục tiêu, bố trí không đủ, không hợp lý hoặc có bố trí nhưng giải ngân chậm; điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu trong vùng dự án không thuận lợi, thường xảy ra mưa lớn gây lũ ống, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất... đã ảnh hưởng nhiều đến tiến độ và chất lượng công trình. Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán chưa được thực hiện thường xuyên.

 Sau khi thảo luận, tập thể Hội đồng Dân tộc và các đại biểu đã có một số kiến nghị như sau:

 - Tổ chức tổng kết đánh giá toàn diện 10 năm xây dựng chương trình TTCX để rút ra những bài học kinh nghiệm từ đó có những quyết định bổ sung, điều chỉnh, xây dựng và tổ chức thực hiện những chương trình với mục tiêu, cơ chế, chính sách đầu tư phù hợp với điều kiện kinh tế, thực tế của đất nước, đồng thời rút kinh nghiệm để thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II có hiệu quả hơn.

 - Tiếp tục rà soát những TTCX đã hoàn thành, các công trình đang phát huy hiệu quả tốt; điều chỉnh mở rộng quy hoạch, sắp xếp bố trí dân cư, bổ sung, nâng cấp một số hạng mục công trình cho phù hợp với thực tế, giúp những TTCX thực sự có sức lan tỏa, ảnh hưởng tích cực đến các xã lân cận. Với những TTCX chưa hoàn thành, đang đầu tư dở dang một số công trình, hoặc quy hoạch bị phá vỡ, công trình phải di chuyển do phát sinh quy hoạch mới... cần có sự chỉ đạo thống nhất trong tổ chức thực hiện và bố trí kế hoạch từ nguồn vốn của Chương trình 135 giai đoạn II để đầu tư cho hoàn chỉnh, không để công trình hư hỏng, xuống cấp gây lãng phí.

 - Uỷ ban nhân dân các cấp, các ngành, đoàn thể cần chú trọng làm tốt công tác kiểm tra việc tổ chức xây dựng, quá trình quản lý, sử dụng các công trình TTCX. Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm giám sát của các Đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân và các tổ chức đoàn thể quần chúng đối với việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 - Cần coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực cho cấp cơ sở, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, cán bộ chuyên môn (nông, lâm, ngư nghiệp, giáo viên, cán bộ y tế ) để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

 Với những kết quả đã đạt được, có thể khẳng định việc xây dựng TTCX ở địa bàn miền núi, vùng cao giai đoạn 1997-2006 là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong vùng và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân nên đã tạo được sự đồng tình ủng hộ, củng cố lòng tin của đồng bào đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Những bài học trong quản lý, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được rút ra sẽ góp phần hoàn thiện hơn những cơ chế, chính sách đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số. Mục tiêu cơ bản của chương trình đã đạt được và hầu hết các TTCX đã phát huy tác dụng, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển trong tiểu vùng, là cánh tay vươn dài của cấp huyện, tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong tiểu vùng, mở rộng sự giao lưu giữa các làng bản, giữa các cụm xã với đô thị, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc thiểu số và đảm bảo quốc phòng an ninh.

Lê Hải Đường
Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc (VPQH)

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,912,028


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs