Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Giải pháp chính sách đặc thù cho phát triển trang trại
Phát triển kinh tế trang trại (KTTT) của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Sơn La góp phần tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp và khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, mặt nước; thu hút các nguồn lực vào sản xuất; cung cấp hàng hoá cho tiêu dùng, công nghiệp chế biến và xuất khẩu; XĐGN, giải quyết công ăn việc làm; nâng cao chất lượng về môi trường sinh thái và có ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh, chính trị...

Song bên cạnh đó, KTTT của đồng bào DTTS ở Sơn La cũng đã đang gặp không ít khó khăn như: thiếu quy hoạch, phát triển tự phát; cơ chế chính sách còn lúng túng; trình độ dân trí, năng lực tổ chức sản xuất không cao, điểm xuất phát về kinh tế thấp; hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất... Vấn đề đặt ra là phải có những giải pháp đủ mạnh và có các chính sách đặc thù để giải quyết những khó khăn trên để phát triển KTTT của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La.

 Sự hình thành và phát triển KTTT nói chung và KTTT của đồng bào DTTS nói riêng là tất yếu trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, do vậy giải quyết vấn đề phát triển chủ yếu để tìm ra giải pháp tạo môi trường thuận lợi nhất, hạn chế những tác động xấu của yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại gây cản trở sự phát triển trang trại. Đối với tỉnh Sơn La việc xác lập và phát triển KTTT của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La phải đảm bảo tính thích ứng giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển, địa bàn, thành phần dân tộc, việc tổ chức sản xuất và phát triển thế nào? Quy mô ra sao?... Phải phù hợp với: điều kiện tự nhiên (đất đai, nguồn nước, hệ sinh thái…); điều kiện kinh tế, xã hội (trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội...); đặc điểm về lịch sử, văn hoá và phong tục tập quán từng địa phương, từng dân tộc... Phải có bước đi tuần tự, chắc chắn từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến kỹ thuật trình độ cao, không chạy theo số lượng, chạy theo quy mô quá lớn. Chú ý đến đa dạng hoá các loại hình cho phù hợp trong đó chú trọng các quy mô vừa và nhỏ, chú ý đến các tiềm năng lợi thế sẵn có của Sơn La và đặc thù của các DTTS để khai thác có hiệu quả trước mắt cũng như trong tương lai.

 Bên cạnh đó, với lợi thế đất đai rộng lớn, đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông nghiệp còn nhiều, theo chủ trương của Nhà nước thì bất kỳ ai (trong đó có đồng bào DTTS), nếu có điều kiện và nguyện vọng làm giàu bằng KTTT đều được khuyến khích, tạo điều kiện và bảo hộ. Tuy nhiên với những vùng đặc thù như Sơn La với trên 80% dân số là người DTTS thì cần phải có chiến lược, chính sách ưu tiên cụ thể để phát triển KTTT của đồng bào vì nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn gắn với vấn đề bình đẳng dân tộc, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, dân tộc trên địa bàn, tạo ổn định về an ninh chính trị, tác động đến sự phát triển về kinh tế, xã hội văn hoá của đồng bào DTTS, bảo vệ môi trường sinh thái cho địa phương và cả khu vực và ngăn chặn các nguy cơ xấu có thể xảy ra. Một vấn đề quan trọng khác là phát triển KTTT của đồng bào DTTS Sơn La phải kết hợp giữa phát huy nội lực tại chỗ của đồng bào, với định hướng, trợ giúp của cộng đồng, xã hội đặc biệt là của Nhà nước thông qua những chính sách ưu tiên cụ thể.

 Qua nghiên cứu ở Sơn La, thực tế cho thấy cần triển khai làm tốt hơn nữa các chính sách hiện có về đầu tư hạ tầng, đất đai, vốn, lao động, thuế, khoa học công nghệ, thị trường..., ngoài ra nên có một số chính sách đặc thù.

 1. Về tiêu chí xác định trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số:

 Căn cứ Thông tư số số 69/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê và các văn bản sửa đổi, bổ sung (Thông tư số 62 và Thông tư số 74), các tiêu chí xác định trang trại được đưa ra khá rõ ràng. Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều hộ gia đình sản xuất kinh doanh rất hiệu quả, giá trị sản xuất giá trị sản lượng hàng hoá còn hơn cả các trang trại đã được công nhận nhưng vì không hội đủ cả 2 tiêu chí mà thông tư đặt ra, nên không được công nhận là trang trại. Từ đó, họ mất cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các chính sách ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước… Như vậy nếu xét về hiệu quả, thì họ sử dụng các yếu tố sản xuất tốt hơn, trình độ sản xuất cao hơn, vai trò và tác động đối với xã hội ở một số khía cạnh lại trội hơn. Việc chỉ quy định giá trị sản lượng và quy mô sản xuất, không phản ánh hết tính ưu việt và hiệu quả của sản xuất, chưa thực sự khuyến khích và đánh giá đúng bản chất của sản xuất hàng hoá, tiêu chí xác định trang trại mới chỉ dừng lại ở việc xác định số lượng, mà chưa thể hiện được chất lượng của trang trại.

 Đối với Sơn La, mặc dù có diện tích tự nhiên rộng lớn, nhưng điều kiện tự nhiên chia cắt phức tạp nên để có được một quy mô diện tích đất đai đủ lớn nhiều khi là rất khó khăn, chưa kể đến áp lực cạnh tranh giữa các dân tộc trong quyền sử dụng các vùng đất có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất. Bên cạnh đó vì điều kiện sản xuất, trình độ năng lực quản lý của đồng bào dân tộc còn có một khoảng cách nhất định so với mặt bằng chung của cả nước, trong khi đó việc phát triển KTTT của đồng bào DTTS là rất quan trọng về nhiều phương diện. Hơn nữa ngay trong nội dung của Thông tư 69 cũng đã thể hiện sự ưu tiên xác định tiêu chí theo vùng, nhưng sự ưu tiên như vậy là chưa đủ và chưa thoả đáng vì ngoài ưu tiên theo vùng cần phải có sự ưu tiên theo các đối tượng cụ thể, ở đây là đối với đồng bào DTTS. Xuất phát từ quan điểm đó nên cần có quy định rõ đối với tiêu chí xác định KTTT của đồng bào DTTS khu vực miền núi vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn theo hướng thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước. Giải pháp này được thực hiện thì sẽ nâng được số lượng trang trại của đồng bào DTTS, việc nâng số lượng không phải là để lấy thành tích, chạy theo phong trào mà để có nhiều trang trại có cơ hội thụ hưởng các chính sách liên quan để phát triển, cụ thể như: giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân năm giảm từ 30 triệu đồng trở lên đối với các vùng trong cả nước về quy mô diện tích; trang trại cây hàng năm giảm còn 1 ha trở lên chung với cả nước; với cây lâu năm giảm còn từ 2 ha trở lên đối với chung cho cả nước. Riêng trang trại trồng hồ tiêu là 0,5 ha trở lên; đối với cây lâm nghiệp từ 5 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước; về chăn nuôi gia súc nên sửa đổi chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên 5 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt thường xuyên từ 30 con trở lên; chăn nuôi sinh sản, có thường xuyên 10 con trở lên; đối với dê, cừu từ 50 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt thường xuyên từ 50 con trở lên (không kể lợn sữa), dê, cừu thịt từ 100 con trở lên; đối với chăn nuôi gia cầm cũng cần điều chỉnh quy mô có thường xuyên từ 500 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản, sửa đổi quy mô diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 1 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 0,5 ha trở lên).

 Cùng với việc điều chỉnh tiêu chí xác định trang trại, nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Cơ sở để đưa ra giải pháp này là sự biến động thị trường đầu vào và bất ổn của thị trường đầu ra; vấn đề thiếu thông tin, năng lực tiếp cận thị trường hạn chế trong khi sản xuất trang trại của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La vẫn đang ở những bước đi ban đầu cần sự trợ giúp của Nhà nước… Giải pháp này góp phần ngăn chặn sự ép cấp, ép giá của tư thương nhằm bảo trợ sản xuất cho đồng bào được ổn định hơn. Nhà nước cung cấp cho người sản xuất các yếu tố đầu vào đảm bảo chất lượng, số lượng và giá hợp lý, đồng thời thực hiện mua một phần hàng hoá nhằm tăng cầu với mục đích nâng giá của nông sản hoặc sẽ thu mua toàn bộ hàng hoá nếu giá thị trường xuống dưới mức giá xác định trước. Đây chính là việc tạo ra một giá phù hợp cho người sản xuất khi giá thị trường lên quá cao (đối với đầu vào) và xuống quá thấp (đối với đầu ra). Để thực hiện việc này cần hình thành quỹ “Bình ổn giá”. Đối tượng thực hiện mua vào, bán ra này do sự chỉ định và quản lý của Chính phủ và được giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý và tổ chức thực hiện.

 Đối với chính sách đất đai, nhà nước cần có chính sách đặc thù khi thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ đồng bào DTTS khu vực biên giới vùng sâu, vùng xa và khu vực đầu nguồn. Tổ chức chỉ đạo các địa phương thực hiện có hiệu quả Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg ngày 15/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào DTTS. Riêng tỉnh Sơn La cần khẩn trương hoàn thành việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và tạo mọi điều kiện để tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương “dồn điền, đổi thửa” mà tỉnh đã đề ra để việc tích tụ đất đai, phát triển sản xuất quy mô lớn được thuận lợi.

 Có quy định tỷ lệ cụ thể đối với việc giao đất, giao rừng cho hộ đồng bào DTTS căn cứ vào tỷ lệ DTTS trên địa bàn, đặc biệt là đối với các vùng quy hoạch phát triển sản xuất. Đối với vùng lòng hồ sông Đà, có quy định ưu tiên các hộ dân tộc tại chỗ, đang “di vén” lên phía trên cao khu vực xung quanh lòng hồ để khai thác phát triển nuôi trồng thuỷ sản; với khu vực biên giới giáp Lào, vùng sâu, vùng xa, mạnh dạn giao rừng và đất rừng với diện tích lớn để đồng bào quản lý, phát triển sản xuất nông lâm kết hợp. Song song với việc giao đất, rừng, mặt nước cần có sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật cho đồng bào phát triển sản xuất. Để KTTT ở Sơn La phát triển bền vững, ngoài những vấn đề nêu trên, việc đảm bảo vốn để trang trại phát triển là rất quan trọng, do đó cần có chính sách vốn đối với các trang trại ở một số vị trí hoặc có vai trò đặc thù. Cụ thể như:

 Các trang trại ở khu vực giáp biên giới với Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, vùng sâu, vùng xa (20 xã biên giới vùng cao). Các trang trại này chủ yếu là trồng, chăm sóc quản lý, khai thác rừng; sản xuất lương thực, rau màu chủ yếu là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, mục đích là để thu hút dân ra các vùng giáp biên vừa làm kinh tế kết hợp tạo vành đai vững chắc bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Các trang trại khu vực đầu nguồn, khu vực rừng phòng hộ, đây là các trang trại mà hiệu quả kinh tế lại được thể hiện qua hiệu quả về môi trường, tạo an toàn cho khu vực phía dưới và góp phần giảm rủi ro do thiên tai mang lại. Các trang trại chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật theo các ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau theo từng địa bàn, ưu tiên các địa bàn có đông đồng bào DTTS.

Việc sản xuất tạo ra hiệu quả kinh tế là quan trọng nhưng quan trọng hơn là ảnh hưởng của những trang trại này đối với sự phát triển sản xuất, thay đổi tập quán của đồng bào DTTS tại địa phương có trang trại. Để có căn cứ cấp vốn, cần xây dựng được quy mô, số lượng trang trại theo chu kỳ hàng năm hoặc 5 năm.

 Lượng vốn đề nghị cấp là khoảng 100 triệu đồng/trang trại và được phân chia ra 3 năm. Cấp vốn kết hợp giữa nhiều hình thức như thông qua hiện vật (cấp vốn bằng giống, cây con)... Về nguồn vốn, để không chịu sự ảnh hưởng của các quy định trong Hiệp định của WTO thì việc cấp vốn cho các trang trại kiểu này nên được lấy từ các chương trình khuyến nông, khuyến lâm; các dự án chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho đồng bào DTTS... Vốn được cấp kèm theo các ràng buộc qua Hợp đồng trách nhiệm cụ thể.

 Phát triển sản xuất hàng hoá nói chung và sản xuất trang trại của đồng bào DTTS của Sơn La nói riêng là một yêu cầu, một hướng đi cần phải được quan tâm xử lý một cách nghiêm túc và có giải pháp, bước đi phù hợp và một trong những giải pháp đó là sớm có chính sách đặc thù để phát triển loại hình này trong thời gian tới, tạo điều kiện để kinh tế Sơn La nói chung và đời sống của đồng bào các DTTS ở Sơn La ngày càng tiến bộ hơn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo môi trường sinh thái và các vấn đề xã hội, dân tộc trên địa bàn tỉnh.Song bên cạnh đó, KTTT của đồng bào DTTS ở Sơn La cũng đã đang gặp không ít khó khăn như: thiếu quy hoạch, phát triển tự phát; cơ chế chính sách còn lúng túng; trình độ dân trí, năng lực tổ chức sản xuất không cao, điểm xuất phát về kinh tế thấp; hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất... Vấn đề đặt ra là phải có những giải pháp đủ mạnh và có các chính sách đặc thù để giải quyết những khó khăn trên để phát triển KTTT của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La.

 Sự hình thành và phát triển KTTT nói chung và KTTT của đồng bào DTTS nói riêng là tất yếu trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, do vậy giải quyết vấn đề phát triển chủ yếu để tìm ra giải pháp tạo môi trường thuận lợi nhất, hạn chế những tác động xấu của yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại gây cản trở sự phát triển trang trại. Đối với tỉnh Sơn La việc xác lập và phát triển KTTT của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La phải đảm bảo tính thích ứng giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển, địa bàn, thành phần dân tộc, việc tổ chức sản xuất và phát triển thế nào? Quy mô ra sao?... Phải phù hợp với: điều kiện tự nhiên (đất đai, nguồn nước, hệ sinh thái…); điều kiện kinh tế, xã hội (trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội...); đặc điểm về lịch sử, văn hoá và phong tục tập quán từng địa phương, từng dân tộc... Phải có bước đi tuần tự, chắc chắn từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến kỹ thuật trình độ cao, không chạy theo số lượng, chạy theo quy mô quá lớn. Chú ý đến đa dạng hoá các loại hình cho phù hợp trong đó chú trọng các quy mô vừa và nhỏ, chú ý đến các tiềm năng lợi thế sẵn có của Sơn La và đặc thù của các DTTS để khai thác có hiệu quả trước mắt cũng như trong tương lai.

 Bên cạnh đó, với lợi thế đất đai rộng lớn, đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông nghiệp còn nhiều, theo chủ trương của Nhà nước thì bất kỳ ai (trong đó có đồng bào DTTS), nếu có điều kiện và nguyện vọng làm giàu bằng KTTT đều được khuyến khích, tạo điều kiện và bảo hộ. Tuy nhiên với những vùng đặc thù như Sơn La với trên 80% dân số là người DTTS thì cần phải có chiến lược, chính sách ưu tiên cụ thể để phát triển KTTT của đồng bào vì nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn gắn với vấn đề bình đẳng dân tộc, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, dân tộc trên địa bàn, tạo ổn định về an ninh chính trị, tác động đến sự phát triển về kinh tế, xã hội văn hoá của đồng bào DTTS, bảo vệ môi trường sinh thái cho địa phương và cả khu vực và ngăn chặn các nguy cơ xấu có thể xảy ra. Một vấn đề quan trọng khác là phát triển KTTT của đồng bào DTTS Sơn La phải kết hợp giữa phát huy nội lực tại chỗ của đồng bào, với định hướng, trợ giúp của cộng đồng, xã hội đặc biệt là của Nhà nước thông qua những chính sách ưu tiên cụ thể.

 Qua nghiên cứu ở Sơn La, thực tế cho thấy cần triển khai làm tốt hơn nữa các chính sách hiện có về đầu tư hạ tầng, đất đai, vốn, lao động, thuế, khoa học công nghệ, thị trường..., ngoài ra nên có một số chính sách đặc thù.

 1. Về tiêu chí xác định trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số:

 Căn cứ Thông tư số số 69/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê và các văn bản sửa đổi, bổ sung (Thông tư số 62 và Thông tư số 74), các tiêu chí xác định trang trại được đưa ra khá rõ ràng. Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều hộ gia đình sản xuất kinh doanh rất hiệu quả, giá trị sản xuất giá trị sản lượng hàng hoá còn hơn cả các trang trại đã được công nhận nhưng vì không hội đủ cả 2 tiêu chí mà thông tư đặt ra, nên không được công nhận là trang trại. Từ đó, họ mất cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các chính sách ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước… Như vậy nếu xét về hiệu quả, thì họ sử dụng các yếu tố sản xuất tốt hơn, trình độ sản xuất cao hơn, vai trò và tác động đối với xã hội ở một số khía cạnh lại trội hơn. Việc chỉ quy định giá trị sản lượng và quy mô sản xuất, không phản ánh hết tính ưu việt và hiệu quả của sản xuất, chưa thực sự khuyến khích và đánh giá đúng bản chất của sản xuất hàng hoá, tiêu chí xác định trang trại mới chỉ dừng lại ở việc xác định số lượng, mà chưa thể hiện được chất lượng của trang trại.

 Đối với Sơn La, mặc dù có diện tích tự nhiên rộng lớn, nhưng điều kiện tự nhiên chia cắt phức tạp nên để có được một quy mô diện tích đất đai đủ lớn nhiều khi là rất khó khăn, chưa kể đến áp lực cạnh tranh giữa các dân tộc trong quyền sử dụng các vùng đất có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất. Bên cạnh đó vì điều kiện sản xuất, trình độ năng lực quản lý của đồng bào dân tộc còn có một khoảng cách nhất định so với mặt bằng chung của cả nước, trong khi đó việc phát triển KTTT của đồng bào DTTS là rất quan trọng về nhiều phương diện. Hơn nữa ngay trong nội dung của Thông tư 69 cũng đã thể hiện sự ưu tiên xác định tiêu chí theo vùng, nhưng sự ưu tiên như vậy là chưa đủ và chưa thoả đáng vì ngoài ưu tiên theo vùng cần phải có sự ưu tiên theo các đối tượng cụ thể, ở đây là đối với đồng bào DTTS. Xuất phát từ quan điểm đó nên cần có quy định rõ đối với tiêu chí xác định KTTT của đồng bào DTTS khu vực miền núi vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn theo hướng thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước. Giải pháp này được thực hiện thì sẽ nâng được số lượng trang trại của đồng bào DTTS, việc nâng số lượng không phải là để lấy thành tích, chạy theo phong trào mà để có nhiều trang trại có cơ hội thụ hưởng các chính sách liên quan để phát triển, cụ thể như: giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân năm giảm từ 30 triệu đồng trở lên đối với các vùng trong cả nước về quy mô diện tích; trang trại cây hàng năm giảm còn 1 ha trở lên chung với cả nước; với cây lâu năm giảm còn từ 2 ha trở lên đối với chung cho cả nước. Riêng trang trại trồng hồ tiêu là 0,5 ha trở lên; đối với cây lâm nghiệp từ 5 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước; về chăn nuôi gia súc nên sửa đổi chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên 5 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt thường xuyên từ 30 con trở lên; chăn nuôi sinh sản, có thường xuyên 10 con trở lên; đối với dê, cừu từ 50 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt thường xuyên từ 50 con trở lên (không kể lợn sữa), dê, cừu thịt từ 100 con trở lên; đối với chăn nuôi gia cầm cũng cần điều chỉnh quy mô có thường xuyên từ 500 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản, sửa đổi quy mô diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 1 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 0,5 ha trở lên).

 Cùng với việc điều chỉnh tiêu chí xác định trang trại, nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Cơ sở để đưa ra giải pháp này là sự biến động thị trường đầu vào và bất ổn của thị trường đầu ra; vấn đề thiếu thông tin, năng lực tiếp cận thị trường hạn chế trong khi sản xuất trang trại của đồng bào DTTS tỉnh Sơn La vẫn đang ở những bước đi ban đầu cần sự trợ giúp của Nhà nước… Giải pháp này góp phần ngăn chặn sự ép cấp, ép giá của tư thương nhằm bảo trợ sản xuất cho đồng bào được ổn định hơn. Nhà nước cung cấp cho người sản xuất các yếu tố đầu vào đảm bảo chất lượng, số lượng và giá hợp lý, đồng thời thực hiện mua một phần hàng hoá nhằm tăng cầu với mục đích nâng giá của nông sản hoặc sẽ thu mua toàn bộ hàng hoá nếu giá thị trường xuống dưới mức giá xác định trước. Đây chính là việc tạo ra một giá phù hợp cho người sản xuất khi giá thị trường lên quá cao (đối với đầu vào) và xuống quá thấp (đối với đầu ra). Để thực hiện việc này cần hình thành quỹ “Bình ổn giá”. Đối tượng thực hiện mua vào, bán ra này do sự chỉ định và quản lý của Chính phủ và được giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý và tổ chức thực hiện.

 Đối với chính sách đất đai, nhà nước cần có chính sách đặc thù khi thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ đồng bào DTTS khu vực biên giới vùng sâu, vùng xa và khu vực đầu nguồn. Tổ chức chỉ đạo các địa phương thực hiện có hiệu quả Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg ngày 15/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào DTTS. Riêng tỉnh Sơn La cần khẩn trương hoàn thành việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và tạo mọi điều kiện để tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương “dồn điền, đổi thửa” mà tỉnh đã đề ra để việc tích tụ đất đai, phát triển sản xuất quy mô lớn được thuận lợi.

 Có quy định tỷ lệ cụ thể đối với việc giao đất, giao rừng cho hộ đồng bào DTTS căn cứ vào tỷ lệ DTTS trên địa bàn, đặc biệt là đối với các vùng quy hoạch phát triển sản xuất. Đối với vùng lòng hồ sông Đà, có quy định ưu tiên các hộ dân tộc tại chỗ, đang “di vén” lên phía trên cao khu vực xung quanh lòng hồ để khai thác phát triển nuôi trồng thuỷ sản; với khu vực biên giới giáp Lào, vùng sâu, vùng xa, mạnh dạn giao rừng và đất rừng với diện tích lớn để đồng bào quản lý, phát triển sản xuất nông lâm kết hợp. Song song với việc giao đất, rừng, mặt nước cần có sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật cho đồng bào phát triển sản xuất. Để KTTT ở Sơn La phát triển bền vững, ngoài những vấn đề nêu trên, việc đảm bảo vốn để trang trại phát triển là rất quan trọng, do đó cần có chính sách vốn đối với các trang trại ở một số vị trí hoặc có vai trò đặc thù. Cụ thể như:

 Các trang trại ở khu vực giáp biên giới với Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, vùng sâu, vùng xa (20 xã biên giới vùng cao). Các trang trại này chủ yếu là trồng, chăm sóc quản lý, khai thác rừng; sản xuất lương thực, rau màu chủ yếu là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, mục đích là để thu hút dân ra các vùng giáp biên vừa làm kinh tế kết hợp tạo vành đai vững chắc bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Các trang trại khu vực đầu nguồn, khu vực rừng phòng hộ, đây là các trang trại mà hiệu quả kinh tế lại được thể hiện qua hiệu quả về môi trường, tạo an toàn cho khu vực phía dưới và góp phần giảm rủi ro do thiên tai mang lại. Các trang trại chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật theo các ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau theo từng địa bàn, ưu tiên các địa bàn có đông đồng bào DTTS.

Việc sản xuất tạo ra hiệu quả kinh tế là quan trọng nhưng quan trọng hơn là ảnh hưởng của những trang trại này đối với sự phát triển sản xuất, thay đổi tập quán của đồng bào DTTS tại địa phương có trang trại. Để có căn cứ cấp vốn, cần xây dựng được quy mô, số lượng trang trại theo chu kỳ hàng năm hoặc 5 năm.

 Lượng vốn đề nghị cấp là khoảng 100 triệu đồng/trang trại và được phân chia ra 3 năm. Cấp vốn kết hợp giữa nhiều hình thức như thông qua hiện vật (cấp vốn bằng giống, cây con)... Về nguồn vốn, để không chịu sự ảnh hưởng của các quy định trong Hiệp định của WTO thì việc cấp vốn cho các trang trại kiểu này nên được lấy từ các chương trình khuyến nông, khuyến lâm; các dự án chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho đồng bào DTTS... Vốn được cấp kèm theo các ràng buộc qua Hợp đồng trách nhiệm cụ thể.

 Phát triển sản xuất hàng hoá nói chung và sản xuất trang trại của đồng bào DTTS của Sơn La nói riêng là một yêu cầu, một hướng đi cần phải được quan tâm xử lý một cách nghiêm túc và có giải pháp, bước đi phù hợp và một trong những giải pháp đó là sớm có chính sách đặc thù để phát triển loại hình này trong thời gian tới, tạo điều kiện để kinh tế Sơn La nói chung và đời sống của đồng bào các DTTS ở Sơn La ngày càng tiến bộ hơn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo môi trường sinh thái và các vấn đề xã hội, dân tộc trên địa bàn tỉnh.

ThS. Nguyễn Cao Thịnh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,031


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs