Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Tăng cường khối đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội


Làng mới được xây dựng ở xã Hà Đông phục vụ tái định cư cho đồng bào Ba Na.

Sau ngày Nam - Bắc sum họp một nhà, non sông thu về một mối, công tác dân tộc triển khai trên phạm vi cả nước với những nội dung và yêu cầu mới: Tập trung ổn định sản xuất và đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội do hậu quả chiến tranh để lại.

Một số địa bàn vùng dân tộc cần có những yêu cầu chỉ đạo cụ thể (như công tác dân tộc ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, vùng đồng bào Chăm, vùng Tây Nguyên…); tiếp tục đẩy mạnh công tác định canh định cư, theo dõi kiểm tra việc thực hiện các chính sách xã hội (ưu tiên cấp thuốc chữa bệnh, muối, dầu hoả… đối với vùng cao); tham mưu giúp Chính phủ ban hành các chính sách miễn giảm thuế, nghĩa vụ… đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết tự túc lương thực tại chỗ… Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, đồng bào các dân tộc thiểu số trong cả nước luôn tin tưởng, giữ trọn niềm tin vào Đảng và Bác Hồ, vượt qua mọi thử thách, khó khăn, cùng với quân dân cả nước anh dũng chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên cương đất nước, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng chí Vũ Lập là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc thời kỳ 1976 - 1979.

 Năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định số 38/QĐ-TW, ngày 14/5/1979 quy định (chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Ban Dân tộc Trung ương và các tỉnh “Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương (hoặc cấp uỷ địa phương) về vấn đề dân tộc ít người”. Nhiệm vụ của Ban Dân tộc Trung ương là: “Giúp Trung ương chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các Hội nghị của Trung ương bàn về đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc. Đối với các vấn đề chung của Đảng về vấn đề dân tộc có liên quan đến nhiều ngành, Ban chủ trì giúp Trung ương chuẩn bị; đối với các vấn đề cụ thể thuộc phạm vi cơ quan nào phụ trách thì cơ quan đó chuẩn bị. Ban có trách nhiệm tham gia chuẩn bị và phát biểu chính thức ý kiến của mình trước khi trình Trung ương để quyết định.

Ban phối hợp và đề xuất ý kiến với Ban Tổ chức Trung ương trong việc nghiên cứu chính sách đối với cán bộ người dân tộc ít người. Giúp Trung ương kiểm tra việc chấp hành đường lối chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc. Qua kiểm tra, phát hiện các mặt tốt để phát huy, những khuyết điểm cần khắc phục; đồng thời đề xuất với Trung ương những vấn đề về chính sách, chủ trương công tác liên quan đến vấn đề dân tộc ít người mà các ngành cần nghiên cứu hoặc chỉ đạo để giải quyết. Phát hiện và tổng hợp các vấn đề chính trị của các dân tộc ít người như tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc, mối quan hệ giữa các dân tộc, những vấn đề có tính chất chính trị trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của các ngành, các cấp ở các vùng dân tộc, nhằm bảo đảm những quan điểm của Trung ương về vấn đề dân tộc được thực hiện đầy đủ, tăng cường khối đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc trong cả nước”.

 ở các tỉnh có Ban Dân tộc, nhiệm vụ của Ban Dân tộc tỉnh là giúp cấp uỷ theo dõi, kiểm tra và tổng hợp tình hình chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và chủ trương của cấp uỷ về vấn đề dân tộc; nghiên cứu các vấn đề về chấp hành chính sách của Đảng đối với các dân tộc ở địa phương theo yêu cầu của cấp uỷ và phối hợp với Ban Dân tộc Trung ương trong việc nghiên cứu và kiểm tra các vấn đề về chính sách của Đảng đối với các dân tộc theo sự chỉ đạo của cấp uỷ.

 Căn cứ chương trình làm việc của Trung ương (hoặc của cấp uỷ) Ban Dân tộc lập chương trình công tác của Ban và thực hiện chương trình công tác đó. Trưởng Ban hoặc Phó Trưởng Ban được tham dự các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (hoặc của cấp uỷ) bàn về vấn đề dân tộc ít người. Ban được cung cấp các thông tin cần thiết như các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo của Trung ương và Báo cáo do các địa phương, các ngành gửi lên Trung ương (hoặc cấp uỷ) về những vấn đề quan trọng có liên quan đến chính sách dân tộc. Ban Dân tộc quan hệ chặt chẽ với các Ban khác, với các Ban Cán sự Đảng; Đảng đoàn ở các ngành cùng cấp, để trao đổi ý kiến về những vấn đề có liên quan đến chính sách dân tộc, phối hợp nghiên cứu, kiểm tra những vấn đề về dân tộc theo các quy định của Trung ương (hoặc của cấp uỷ). Ban được yêu cầu các địa phương, các ngành cung cấp những tư liệu cần thiết về vấn đề dân tộc có liên quan đến trách nhiệm công tác của Ban. Ban Dân tộc Trung ương được quan hệ với các tổ chức làm công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương để trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn nghiệp vụ, phối hợp kiểm tra hoặc nghiên cứu những vấn đề về chính sách dân tộc ở địa phương. Ban có nhiệm vụ báo cáo, thỉnh thị, phản ánh tình hình thực hiện chính sách dân tộc và những vấn đề khác có quan hệ đến công tác dân tộc lên Bộ Chính trị, Ban Bí thư (hoặc cấp uỷ).

 ở các tỉnh miền núi và các tỉnh có nhiều dân tộc ít người (khoảng từ 3 vạn trở lên) thành lập Ban Dân tộc của cấp uỷ, biên chế khoảng 5 đến 7 cán bộ nghiên cứu. Cần lựa chọn cán bộ đủ tiêu chuẩn để bảo đảm làm tốt chức trách của Ban; trường hợp chưa có cán bộ có chất lượng để thành lập Ban thì tạm thời có 1 hoặc 2 cán bộ đặt trong Ban Dân vận - Mặt trận để giúp cấp uỷ theo dõi, nắm tình hình.

 Như vậy là từ năm 1955, hai cơ quan làm công tác dân tộc của Trung ương Đảng và của Chính phủ hầu như thống nhất trong một tổ chức, nhất là từ năm 1959 nâng lên Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ (cơ quan ngang Bộ) với Ban Dân tộc Trung ương cùng một trụ sở (số 80 Phan Đình Phùng, Hà Nội) có hai con dấu của cơ quan Đảng và cơ quan Chính phủ, thực hiện hai chức năng: Tham mưu cho Trung ương Đảng và quản lý nhà nước về lĩnh vực công lác dân tộc.

 Từ năm 1979 - 1982, đồng chí Hoàng Văn Kiểu là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ. Thời kỳ 1982 - 1989, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương là đồng chí Hoàng Trường Minh1. (Năm 1987, có Quyết định số 78/HĐNN ngày 16/2/1987 của Hội đồng Nhà nước giải thể Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ).

 Quốc hội khoá VII (1981 - 1987) thành lập Hội đồng Dân tộc thay thế Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội, có những nhiệm vụ và quyền hạn: “(1) Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và dự án khác liên quan đến vấn đề dân tộc (2) Giám sát việc thực hiện luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực dân tộc; giám sát hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số (3) Tham gia ý kiến về dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến vấn đề dân tộc và giám sát việc thực hiện các văn bản đó (4) Kiến nghị với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các vấn đề về chính sách dân tộc của Nhà nước; các vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động của các cơ quan hữu quan; kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác của Nhà nước ở Trung ương và địa phương về những vấn đề có liên quan đến dân tộc thiểu số”.

Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc quy định: “Hội đồng Dân tộc là cơ quan của Quốc hội, do Quốc hội thành lập. Số thành viên của Hội đồng Dân tộc do Quốc hội quy định. Hội đồng Dân tộc có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách. Khi cần thiết, Hội đồng Dân tộc cử thành viên của mình đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét vấn đề mà Hội đồng quan tâm. Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để thành viên của Hội đồng thực hiện nhiệm vụ.

Kết quả hoạt động thẩm tra, giám sát của Hội đồng Dân tộc được trình bày trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bằng hình thức thuyết trình, báo cáo hoặc ý kiến phát biểu. Thuyết trình, báo cáo hoặc ý kiến phát biểu phải nêu những vấn đề được nhất trí, không nhất trí hoặc còn có ý kiến khác nhau để Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng được uỷ quyền thay mặt Hội đồng trình bày thuyết trình, báo cáo, ý kiến phát biểu trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Phiên họp của Hội đồng Dân tộc có thể được tiến hành trong thời gian kỳ họp Quốc hội hoặc giữa hai kỳ họp Quốc hội. Các thành viên của Hội đồng có trách nhiệm tham dự phiên họp của Hội đồng… Trong hoạt động của mình, Hội đồng Dân tộc chịu sự chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng có trách nhiệm gửi báo cáo công tác hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và cả năm đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng có trách nhiệm cử thành viên tham gia Đoàn công tác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu. Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá VII gồm 38 thành viên, do đồng chí Hoàng Trường Minh làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch: Lò Văn Hạc, Giàng A Páo, Ksor Krơn, Sơn Thông và 33 Uỷ viên.

 Cơ quan công tác dân tộc của Quốc hội chuyển từ Uỷ ban Dân tộc sang Hội đồng Dân tộc là bước kiện toàn tổ chức đổi mới cơ chế làm việc rất quan trọng; chuyển từ mô hình tổ chức hoạt động kiêm nhiệm, các thành viên Uỷ ban Dân tộc phần lớn ở cơ sở và các hoạt động của Uỷ ban chủ yếu diễn ra tại các kỳ họp Quốc hội. Tham mưu giúp việc cho Hội đồng Dân tộc là Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đảm nhiệm.

 Để tăng cường tổ chức cơ quan Dân tộc thuộc Trung ương Đảng, ngày 25/8/1988 Ban Bí thư Trung ương đã ra Quyết định số 62/QĐ-TW về chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc Trung ương, đã xác định: “Ban Dân tộc Trung ương có chức năng làm tham mưu tổng hợp cho Trung ương Đảng về công tác dân tộc thiểu số và có các nhiệm vụ: “Nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề dân tộc và công tác dân tộc kiến nghị với Trung ương Đảng những vấn đề về chủ trương, chính sách đối với các dân tộc thiểu số. Kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, ban Bí thư về vấn đề dân tộc thiểu số ở các cấp uỷ Đảng, các tổ chức chính quyền và các đoàn thể. Làm công tác tổ chức cán bộ theo quy định của Trung ương. Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng chính sách đối với cán bộ dân tộc thiểu số.

Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác dân tộc ở các ngành và bộ phận chuyên trách làm công tác dân tộc của các cấp uỷ địa phương”.

 Bộ máy giúp việc của Ban gồm có: Vụ Kế hoạch - Đời sống, Vụ Văn hoá, Giáo dục và Y tế, Vụ Chính trị (bao gồm các lĩnh vực xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, an ninh quốc phòng), Văn phòng Ban (gồm có bộ phận nghiên cứu tổng hợp, Phòng Hành chính - Quản trị và phòng Tổ chức - Cán bộ cơ quan). Biên chế của Ban gọn nhẹ, sắp xếp phù hợp với chức năng nhiệm vụ, coi trọng chất lượng; gồm những cán bộ có phẩm chất, có năng lực nghiên cứu, tổng hợp, có tinh thần đổi mới, có kiến thức về kinh tế - xã hội, có khả năng kinh nghiệm công tác ở vùng dân tộc thiểu số, hiểu biết về công tác tổ chức cán bộ và xây dựng Đảng. Ngoài số cán bộ trong biên chế, Ban được thực hiện chế độ cộng tác viên để phục vụ công tác nghiên cứu kiểm tra theo yêu cầu của Ban, Ban Dân tộc Trung ương bàn bạc thống nhất với Ban Tổ chức Trung ương về biên chế và chế độ sử dụng cộng tác viên của Ban. Ban quan hệ chặt chẽ với các Ban của Trung ương Đảng, với Văn phòng Trung ương. Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, với các cấp, các ngành để trao đổi những vấn đề có liên quan đến chính sách dân tộc.

 Cơ quan công tác Dân tộc của Quốc hội tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Hội đồng Dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng Dân tộc. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc. Hội đồng Dân tộc có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và viên chức nhà nước hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết. Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó Hội đồng Dân tộc còn có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội. Quốc hội bầu Hội đồng Dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên. Hội đồng Dân tộc có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách”.

 Hội đồng Dân tộc của Quốc khoá VIII (1987 - 1992) gồm 42 thành viên, do Phó Chủ tịch Hôi đồng Nhà nước Đàm Quang Trung làm Chủ tịch Hội đồng, các Phó Chủ tịch: Lường An, Nguyễn Nhiêu Cốc, Ksor Krơn, Giàng A Páo, Lâm Phú, Nông Đức Mạnh và 35 uỷ viên.

 Từ năm 1989 - 1992, đồng chí Nông Đức Mạnh là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Ban Dân tộc Trung ương đã cùng các cơ quan hữu quan nghiên cứu, chuẩn bị nội dung để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về “Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”. Đây là văn kiện quan trọng của Đảng, mở đường cho sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc.

Nghị quyết 22 chỉ rõ: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với miền núi; kiện toàn tổ chức và tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ của các cơ quan tham mưu, đủ sức giúp Trung ương cả trong thực hiện chính sách dân tộc, chính sách kinh tế, xã hội ở miền núi”. Hội đồng Bộ trưởng đã thể chế hoá Nghị quyết của Đảng và ban hành Quyết định số 72/HĐBT, ngày 13/3/1990 về “Một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi”.

 Để tăng cường sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ đối với công tác dân tộc và thực hiện Quyết định số 72/HĐBT, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 147/CT ngày 11/5/1990 thành lập Văn phòng Miền núi và Dân tộc, để giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo công tác miền núi và dân tộc. Văn phòng Miền núi và Dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, có các nhiệm vụ và quyền hạn: “Theo dõi đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp trong việc thực hiện các quyết định của Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc. Phối hợp với các Ban của Đảng, các Bộ, ngành nghiên cứu hoặc chủ trì nghiên cứu đề xuất các chủ trương, chính sách, luật pháp về miền núi và dân tộc, để Hội đồng Bộ trưởng xem xét quyết định hoặc trình Hội đồng Nhà nước quyết định. Tham gia với các Bộ, ngành, địa phương về việc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp cán bộ chủ chốt là người dân tộc làm công tác chính quyền.

Thực hiện quan hệ với nước ngoài về vấn đề dân tộc. Yêu cầu các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bàn những vấn đề miền núi và dân tộc. Mời các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bàn những vấn đề miền núi và dân tộc. Kiểm tra các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc; kiến nghị với cơ quan được kiểm tra thi hành các biện pháp cần thiết hoặc sửa chữa những việc sai trái (nếu có) nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc”.

 Văn phòng Miền núi và Dân tộc do đồng chí Bộ trưởng chuyên trách công tác miền núi và dân tộc trực tiếp làm Chủ nhiệm. Văn phòng có 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm, bộ máy làm việc gồm có một số tổ chuyên viên, được sử dụng con dấu và có ngân sách riêng. Trụ sở của Văn phòng Miền núi và Dân tộc đặt tại 80 Phan Đình Phùng, Hà Nội (trụ sở Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ trước đây và hiện nay).
 Đồng chí Hoàng Đức Nghi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Miền núi và Dân tộc. Đồng chí Cư Hoà Vần là Phó Chủ nhiệm, từ năm 1990 - 1992.

 Thời kỳ 1992 - 1997, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá IX gồm 32 thành viên do đồng chí Y Ngông Niek Đăm làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch: Nguyễn Nhiêu Cốc, Huỳnh Cương, Phạm Văn Kiết, Nguyễn Văn Sỹ, Cư Hoà Vần và 26 uỷ viên.

 Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Văn phòng Miền núi và Dân tộc để xây dựng thành cơ quan Uỷ ban Dân tộc và Miền núi. Lập Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc và Miền núi làm nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về công tác Dân tộc và Miền núi (Thông báo số 33/TB-TW ngày 5/10/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng). Ngày 20/2/1993, Chính phủ ra Nghị định số 11/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban: “Uỷ ban Dân tộc và Miền núi là cơ quan của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng và Chính phủ về chính sách chung và chính sách cụ thể đối với miền núi có các dân tộc thiểu số. Uỷ ban có nhiệm vụ và quyền hạn. Xây dựng trình Chính phủ ban hành hoặc để Chính phủ trình Trung ương Đảng, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành về các chủ trương, chính sách, luật pháp kinh tế - xã hội miền núi và dân tộc. Phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức hữu quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm, hàng năm, các chính sách cụ thể về dân tộc, kinh tế - xã hội ở miền núi trình Chính phủ và phối hợp với các ngành, các địa phương trong việc thực hiện kế hoạch, chính sách đó. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân địa phương thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, pháp luật và các quy định của Nhà nước về dân tộc và miền núi; các dự án, chương trình kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trình Chính phủ xét duyệt và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án về miền núi và dân tộc do Uỷ ban trực tiếp phụ trách. Trực tiếp tổ chức thực hiện chương trình định canh, định cư đồng bào dân tộc. Tham gia với các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan trong việc xây dựng, quản lý nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nguồn viện trợ Chính phủ, phi Chính phủ đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ; hướng dẫn việc kiểm tra sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo của các tổ chức phi Chính phủ trợ giúp đồng bào miền núi và các dân tộc theo địa chỉ. Đón tiếp, giải quyết hoặc phối hợp với các cơ quan để giải quyết những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số theo chế độ, chính sách, pháp luật quy định”.

 Đồng chí Hoàng Đức Nghi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc và Miền núi; các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban: Phan Thanh Xuân, Lù Văn Que, Lâm Phú, Nguyễn Thạc Giáp, Bế Trường Thành, Trần Lưu Hải, Hoàng Công Dung.

 Tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi gồm có: Văn phòng, Vụ Tổng hợp, Vụ Chính sách Dân tộc và Miền núi, Vụ Tổ chức - Cán bộ, Vụ Hợp tác Quốc tế và Cục định canh định cư (được tổ chức trên cơ sở Ban Định canh định cư từ Bộ Lâm nghiệp chuyển sang). Năm 1995, theo Quyết định số 820/TTg ngày 15/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ: Chuyển Cục Định canh định cư từ Uỷ ban Dân tộc và Miền núi sang Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cơ quan đặc trách về công tác dân tộc Khmer Nam Bộ được thành lập trên cơ sở chuyển Phân ban Dân tộc Nam Bộ (thuộc Ban Dân tộc Trung ương trước đây) theo Quyết định số 456/TTg, ngày 7/9/1993 của Thủ tướng Chính phủ.

 Để thực hiện chức năng vừa là cơ quan quản lý Nhà nước, vừa làm tham mưu cho Trung ương Đảng về các lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi, ngày 5/6/1998 Ban Tổ chức Trung ương có Công văn số 657/TC-TW thông báo ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị bổ sung một số quy định cụ thể như sau: “Nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề dân tộc, miền núi, kiến nghị với Trung ương Đảng những chủ trương, chính sách đối với miền núi và các dân tộc thiểu số. Chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các dự thảo Nghị quyết, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị về chủ trương, chính sách với miền núi và các dân tộc thiểu số và miền núi. Làm công tác tổ chức và cán bộ theo quy định của Trung ương, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng chính sách đối với cán bộ dân tộc miền núi. Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác dân tộc và miền núi ở các Bộ, ngành Trung ương và các cấp uỷ đảng địa phương. Con dấu của Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc và Miền núi dùng để quan hệ và làm việc với các Ban Cán sự Đảng, Đảng đoàn ở Trung ương và cấp uỷ địa phương như một Ban của Đảng.

Uỷ ban Dân tộc và Miền núi được dự các cuộc họp giao ban Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị với các Ban Đảng theo định kỳ; được tiếp nhận thông tin của Văn phòng Trung ương như các Ban Đảng ở Trung ương”.

 Cơ quan công tác dân tộc của Quốc hội tiếp tục hoạt động theo mô hình: Hội đồng Dân tộc, Quốc hội khoá X (1997 - 2002) gồm 38 thành viên do đồng chí Cư Hoà Vần làm Chủ tịch Hội đồng, các Phó Chủ tịch: Mã Điền Cư, Y Luyện Niêk Đăm, Tòng Thị Phóng, Sơn Song Sơn và 33 uỷ viên.

 Cuối năm 1998, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi tiếp tục được kiện toàn về tổ chức theo Nghị định số 59/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi: “Uỷ ban Dân tộc và Miền núi là Cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng về chủ trương, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và miền núi. Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định tại Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ và có nhiệm vụ, quyền hạn: Nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề về dân tộc và miền núi. Trình Trung ương Đảng và Chính phủ những chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc và miền núi; ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện các vấn đề nói trên. Chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các dự thảo Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị về chủ trương, chính sách đối với dân tộc và miền núi. Tham gia với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vấn đề liên quan đến dân tộc và miền núi; tham gia việc thẩm định chiến lược phát triển vùng, kế hoạch kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và các dự án nước ngoài tài trợ được thực hiện ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Nghị quyết; Chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước.

Thực hiện nhiệm vụ về công tác tổ chức cán bộ theo quy định của Trung ương Đảng; kiến nghị với Trung ương Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương về chủ trương, chính sách, giải pháp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số. Tham gia vào việc đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số và tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng cán bộ dân tộc và cán bộ làm công tác dân tộc.

Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực dân tộc theo quy định của pháp luật. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan của Đảng và Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc. Chỉ đạo việc thực hiện một số chương trình, dự án, mô hình điểm trên địa bàn vùng dân tộc miền núi do Chính phủ giao. Tiếp đón, thăm hỏi đồng bào dân tộc, nắm yêu cầu nguyện vọng của đồng bào. Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, Ban, ngành Trung ương địa phương giải quyết các nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số. Quản lý về tổ chức cán bộ, công chức của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi theo quy định.

 Tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi gồm. Các tổ chức giúp Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Chính sách Dân tộc, Vụ Chính sách Miền núi, Vụ Tổng hợp, Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Tổ chức - Cán bộ, Vụ Pháp chế, Thanh tra, Văn phòng, Cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ (tại Cần Thơ).

 Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Uỷ ban: Viện Nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi, Tạp chí Dân tộc và Miền núi, Trung tâm Bồi dưỡng Cán bộ Dân tộc, Trung tâm Thông tin và Tư liệu.

 Các doanh nghiệp trực thuộc Uỷ ban Dân tộc và Miền núi được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật.

 Tổ chức Bộ máy giúp Uỷ ban nhân dân địa phương quản lý Nhà nước về công tác dân tộc và miền núi do Uỷ ban nhân dân địa phương, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ trình Chính phủ quyết định.

 Thời kỳ 2002 - 2007, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá XI gồm 39 thành viên do đồng chí Tráng A Pao làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch: Mã Điền Cư, Bùi Thị Bình, Huỳnh Đảm, Y Ly Niêk Đăm, Nguyễn Thị Nương, Thạch Tịnh và 32 uỷ viên.

TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Dân tộc
 
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,193


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs