Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long


Giờ học của các giáo sinh Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng.

LTS: Công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Để hiểu rõ hơn về hiệu quả của công tác cán bộ, phóng viên Tạp chí Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn đồng chí Sơn Song Sơn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ về hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cuộc phỏng vấn.

PV: Đồng chí đánh giá như thế nào về hiệu quả của công tác đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?

Đ/c Sơn Song Sơn: Từ nhiều năm qua, Đảng bộ các cấp trong khu vực có nhiều nỗ lực trong công tác cán bộ, công tác phát triển đảng gắn với việc củng cố, xây dựng hệ thống chính trị trong vùng dân tộc thiểu số. Hầu hết các tỉnh, thành đều có nghị quyết về công tác dân tộc, trong đó có nội dung về quy hoạch, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Tính đến cuối năm 2006, vùng Tây Nam Bộ có 10.907 cán bộ công chức, 09 đại biểu Quốc hội khóa XII, 2.255 đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, 8.133 đảng viên là người dân tộc Khmer. Trong đó, có 3.338 cán bộ, đảng viên được cơ cấu trong hệ thống chính trị các cấp.

Trong đồng bào dân tộc Chăm ở Tây Nam Bộ, chủ yếu là ở tỉnh An Giang có 22 đảng viên, 32 thành viên ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 76 đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 1.297 hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ, 272 hội viên Hội Nông dân các cấp.

Nhiều địa phương đã chú trọng đến việc bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số, nổi bật nhất là tỉnh Trà Vinh và tỉnh Kiên Giang. Hai tỉnh này, địa phương đã bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số khá hợp lý. Kinh nghiệm cho thấy, trong vùng dân tộc, nơi nào có cán bộ dân tộc thì nơi đó ổn định, phát triển nhiều mặt.

Nhìn chung, việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ngày càng có hiệu quả, từng bước đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.

PV: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, mặt hạn chế của công tác đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực này là gì? Theo đồng chí nên có những giải pháp nào để sử dụng có hiệu quả hơn công tác cán bộ người dân tộc thiểu số.

Đ/c Sơn Song Sơn: Bên cạnh những kết quả đạt được bước đầu, việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số còn bộc lộ một vài hạn chế, tồn tại sau đây:

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số có tăng nhưng tăng chậm, chất lượng còn hạn chế. Tỷ lệ đảng viên so với đảng viên chung và so với dân số dân tộc còn thấp, điển hình như tỷ lệ đảng viên là người dân tộc Khmer so với đảng viên chung của 9 tỉnh, thành là 0,41%, so với dân số Khmer là 0,67%.
Cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số phần lớn ở cơ sở, tham gia hầu hết trong các tổ chức, đoàn thể ở cấp xã, phường, thị trấn.

Cán bộ chủ chốt ít, đội ngũ kế thừa hụt hẫng. Việc quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán chưa được chú trọng. Việc sử dụng cán bộ dân tộc, có nơi chưa mạnh dạn cất nhắc.

Nguyên nhân chủ yếu là do địa phương quan tâm chưa đúng mức, chưa có đề án cụ thể để quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng. Song song đó, cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số phần lớn ở cơ sở, trình độ văn hóa thấp nên khó khăn trong việc quy hoạch, đào tạo. Khi thực hiện chuẩn hóa cán bộ theo chủ trương chung, thì nhiều cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số không đủ điều kiện.

Theo tôi, Trung ương và địa phương cần quan tâm hơn nữa, nêu cao trách nhiệm hơn nữa đối với công tác đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số. Thực tế từ nhiều năm qua, nhiều trí thức trẻ được đào tạo về chuyên môn, có trình độ văn hóa, có nhiều triển vọng để trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhưng chưa được quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc, đề bạt.

Vẫn còn đội ngũ giáo viên là người dân tộc Khmer có trình độ tương đối khá, nhưng hầu hết các địa phương chưa quan tâm phát triển đảng, ít sử dụng đội ngũ này vào công tác quản lý, lãnh đạo.

Những người tích cực, tiêu biểu có sức ảnh hưởng nhất định đến đồng bào tại cụm dân cư, tại cơ sở ấp, khóm như: đội ngũ trí thức được đào tạo từ trường chùa Khmer đang hoạt động giảng dạy trong chùa và hoạt động xã hội trong phum sóc, những người sản xuất, kinh doanh giỏi, các nghệ nhân, nghệ sĩ quần chúng phần lớn chưa được địa phương quan tâm.

Do đó, Trung ương và địa phương cần có hội nghị đánh giá đúng thực trạng, xây dựng đề án cụ thể, có giải pháp đồng bộ và có cách thức đào tạo riêng phù hợp với trình độ, tâm lý, tình cảm dân tộc.

PV: Qua theo dõi ở khu vực Tây Nam Bộ, đồng chí có nhận xét gì về thực hiện Chương trình 134 ở khu vực này? Mặt hạn chế là gì? Giải pháp nào để thực hiện đồng bộ việc giải quyết đất ở, đất sản xuất và tạo việc làm cho người lao động?

Đ/c Sơn Song Sơn: Nội dung của Quyết định 134 là hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt. Đến nay, đã có trên 60.000 hộ đồng bào dân tộc nghèo được hỗ trợ nhà ở trong đó Trà Vinh 20.662 căn, Sóc Trăng 17.305 căn, Kiên Giang 7.187 căn, An Giang 2.600 căn...; có 1.714 hộ được giải quyết đất ở; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 26.619 hộ.

Song, khó nhất là nội dung hỗ trợ đất sản xuất, vì hầu hết địa phương không còn quỹ đất. Mặc dù đã có chủ trương cho chuyển đổi từ hỗ trợ đất sản xuất sang phương thức hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nhưng cả Trung ương và địa phương vẫn còn lúng túng.

Theo tôi, một số Bộ, ngành có liên quan và các địa phương cần sớm hoàn chỉnh đề án để Thủ tướng Chính phủ có cơ sở phê duyệt đầu tư mang tính đồng bộ và nhất quán. Các địa phương liên kết chặt chẽ với các trường dạy nghề để có chỉ tiêu cụ thể đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong việc đào tạo nghề.

Về phía đồng bào cũng cần xác định rõ: có nghề trong tay là có cơ hội, có điều kiện để lao động tạo thu nhập, cải thiện cuộc sống. Thực tế cho thấy, nếu chỉ làm ruộng, trồng trọt, chăn nuôi theo phương cách cũ thì khó vươn lên, chi bằng có nghề vững chắc sẽ có cơ hội thay đổi, nâng cao cuộc sống. Vấn đề cần quan tâm là, các địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia học nghề, bởi vì đồng bào cũng chưa có thói quen học nghề, nhất là các ngành học tập trung.

PV: Thưa đồng chí, Chương trình 135 giai đoạn I đã kết thúc và giai đoạn II Chương trình 135 đã và đang được triển khai. Vậy các tỉnh Tây Nam Bộ đã triển khai theo phương thức nào? Cơ chế xã làm chủ đầu tư có gì khó khăn và thuận lợi ở khu vực này?

Đ/c Sơn Song Sơn: Từ năm 1999 đến hết năm 2005, nhiều tỉnh Tây Nam Bộ thực hiện Chương trình 135. Bằng nhiều nguồn vốn, các địa phương đã đầu tư trên 1.000 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng cho 207 xã và 44 trung tâm cụm xã. Kết thúc giai đoạn I có 48 xã và 8 trung tâm cụm xã hoàn thành mục tiêu Chương trình 135. Nhiều công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt đã hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả tích cực.

Từ năm 2006 đến nay, các địa phương tiếp tục thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II. Nhiều tỉnh ở miền Bắc và miền Trung mạnh dạn cho xã làm chủ đầu tư từ nhiều năm qua, thực sự có nhiều thuận lợi.
Tuy nhiên, vùng Tây Nam Bộ từ khi có Chương trình 135 đến nay hầu như chưa có tỉnh nào giao cho xã làm chủ đầu tư. Bởi 2 lý do:

Một là, trình độ quản lý, điều hành của cán bộ xã chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Cán bộ của nhiều xã có tâm lý không muốn làm chủ đầu tư, vì trình độ hạn chế, vì sợ trách nhiệm, muốn cấp trên thực hiện, xã chỉ tham gia giám sát, tiếp nhận công trình để phục vụ dân, phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Theo tôi, nếu xã chưa đủ trình độ quản lý, điều hành, cụ thể là chưa đủ khả năng làm chủ đầu tư thì nên để cho huyện làm chủ đầu tư, tránh rủi ro, thất thoát. Tất nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng cho cấp xã thụ hưởng chương trình để có năng lực quản lý điều hành và khi có đủ điều kiện làm chủ đầu tư là cần thiết.

PV: Xin cảm ơn đồng chí.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,173


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs