Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Hãy nghe người Bãi Kè kêu cứu

 11/06/2009

Ông Vũ Văn Điểm ôm mặt khóc kể về nỗi khổ mất đất sản xuất của người dân Bãi Kè

Đầu tháng 4 năm 2007 chúng tôi nhận được tin có 119 hộ ở xóm Bãi Kè Đồng Hợp, đồng lòng ký đơn khiếu kiện Lâm trường Đồng Hợp về việc Lâm trường ngược đãi trong việc ăn chia sản phẩm rừng và thu đất sản xuất của dân. Vừa qua, chúng tôi đã có 2 ngày đến tận xóm Bãi Kè để tìm hiểu sự thật... Mong rằng dư luận xã hội và các cơ quan có thẩm quyền làm sáng tỏ vấn đề này.

Ngồi trước mặt tôi là ông Vũ Văn Điểm 76 tuổi ở xóm Bãi Kè, xã Đồng Hợp, Quỳ Hợp (Nghệ An). Trông ông tiều tụy, khắc khổ và yêu đuối như người suy nhược cơ thể. Trước mặt chúng tôi-những người rất xa lạ mà ông vẫn ôm mặt khóc nức nở như một đứa trẻ bị đòn oan. Ông nói trong tiếng nấc: “Khổ lắm mấy anh ơi! Năm 1963 gia đình tôi từ xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu (Nghệ An) theo tiếng gọi của Đảng lên đây xây dựng kinh tế miền núi. Lúc bấy giờ nơi đây rừng hoang, rậm rạp, cọp beo đầy đàn, chỉ có những người nông dân chúng tôi khai khẩn hoang hóa chứ có thấy mặt ông bà lâm nghiệp nào đâu? Có sức bao nhiêu thì khai phá bấy nhiêu. Lúc đầu thì trồng sắn, trồng khoai, sau dựng nhà, dựng cửa, rồi lại tiếp tục sắn khoai chứ đồi hoang núi trọc làm gì cấy được lúa? Ba chục năm trời gần như không ai quản lý, cứ tự sản tự tiêu vậy thôi! Đến năm 1990 mới đẻ “ra cái” Lâm trường Đồng Hợp này và năm 1993 họ hợp đồng với chúng tôi trồng cây trên mảnh đất của chính chúng tôi khai phá, gọi là hợp đồng trồng rừng phòng hộ theo Chương trình 327 của Chính phủ.

Người dân chúng tôi vui như mở cờ trong bụng vì tin rằng nhờ nguồn vốn 327 chúng tôi sẽ trồng được rừng và sẽ được hưởng lợi từ thành quả lao động của mình. Nào ngờ, năm 2004 Lâm trường Đồng Hợp cho người về chặt hết cây keo và bạch đàn của chúng tôi trồng và chăm sóc suốt 11 năm nay mà không hề nói với chúng tôi một tiếng. Và khi bắt buộc phải thanh toán ăn chia với người trồng rừng thì họ biến thành rừng phòng hộ (khi hợp đồng trồng rừng) thành rừng sản xuất (khi khai thác) để thay vì phải thanh toán cho người trồng rừng từ 90-95% (lợi nhuận) theo Điều 6-Quyết định số 178 của Thủ tướng Chính phủ, họ chỉ thanh toán cho chúng tôi 25-37%?!

Sau khi khai thác hết keo và bạch đàn thì Lâm trường Đồng Hợp còn cho người ở đâu đó về đây quản lý số diện tích đất rừng, vốn là của chúng tôi khai phá mà có. Ông Điểm nói tiếp, ngay nơi tôi ngồi đây-nhà tôi đây này, mà họ cũng bảo là đất của họ. Tôi chỉ ở nhờ ở đậu thôi! Họ có quyền đuổi chúng tôi bất kể lúc nào! Mấy cây keo và bạch đàn trong vườn, tôi muốn chặt bán cũng phải xin phép họ, nếu họ không cho phép thì không được chặt. Vì họ bảo cây nằm trên đất của họ là cây của họ tất! Thế thì công khai hoang phục hóa 44 năm trời, với biết bao mồ hôi và nước mắt của chúng tôi đâu rồi? UBND xã Đồng Hợp đâu rồi? UBND huyện Quỳ Hợp đâu rồi? Ai là người bảo vệ quyền lợi của chúng tôi đây các anh ơi!
Chúng tôi hỏi: “Theo (Quyết định số 347/QĐ-SNN-TTr của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) ngày 24/5/2007 thì Lâm trường đã cắt trả lại cho bà con 71ha rồi. Vậy thì đất ấy ở đâu?”.

Ông Hồ Văn Hiền, xóm trưởng xóm Bãi Kè trả lời: “Trên giấy tờ thì họ trả lại cho dân Bãi Kè chúng tôi: 119 hộ và 517 khẩu là 71ha. Nhưng thực tế 30ha họ chuyển thẳng cho 6 hộ công nhân của Lâm trường. Còn 41ha thì họ chuyển cho UBND xã Đồng Hợp cho đến tận hôm nay vẫn chưa thấy UBND xã có ý kiến gì? Cũng chưa hề có tin tức gì về việc mỗi hộ sẽ được bao nhiêu đất cả.

Được biết Lâm trường Đồng Hợp đã trả lại cho UBND xã Đồng Hợp 41ha từ ngày 24/2/2004 tại Quyết định 199/QĐ-UB-ĐC của UBND tỉnh Nghệ An.

Như vậy là đã hơn 3 năm mà UBND xã Đồng Hợp vẫn chưa giải quyết việc này. Rõ ràng UBND xã Đồng Hợp đã không có sự quan tâm nào đến 119 hộ dân ở Bãi Kè, mà Đảng bộ huyện Quỳ Hợp và UBND huyện Quỳ Hợp vẫn không có ý kiến gì? Vậy thì 41ha ấy 3 năm qua đã giao cho ai?

Đề nghị những người có trách nhiệm và chính quyền sở tại cần làm rõ vụ việc và hãy bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bà con nghèo xóm Bãi Kè.

Bài và ảnh: Võ Ngọc Sơn

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,876,512


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs