Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Tín hiệu vui từ vụ tôm xuân - hè năm 2007

 11/06/2009

Anh Trần Văn Đồng, xã Hải An, huyện Tĩnh Gia nuôi tôm he chân trắng đạt hiệu quả kinh tế cao

Vùng chuyên nuôi tôm sú hiện nay của tỉnh Thanh Hóa là 4.200 ha (bao gồm cả 400 ha các vùng nuôi tôm công nghiệp), đạt 100% kế hoạch. Sản lượng tôm sú ước đạt 1.800 tấn, tăng 600 tấn so với cùng kỳ (CK) năm 2006; năng suất bình quân ước đạt 4 tạ/ha (cao gấp 2 lần CK), giá trị ước đạt 180 tỷ đồng.

Rau câu nuôi ghép với tôm cũng cho sản lượng khoảng 3.000 tấn; cua khoảng 1.000 tấn, năng suất cua bình quân đạt 6 – 6,5 tạ/ha; cá tự nhiên thu hoạch đạt khoảng 2,5 nghìn tấn. Ngoài tôm sú, toàn tỉnh có khoảng 30 ha nuôi thí điểm tôm he chân trắng; trong đó, huyện Quảng Xương nuôi khoảng 20 ha, huyện Tĩnh Gia 5ha và huyện Nông Cống khoảng 5 ha. Bước đầu thí điểm có kết quả tương đối khả quan, năng suất đạt 10 tấn/ha.

Gia đình anh Trần Văn Đồng (35 tuổi) xã Hải An, huyện Tĩnh Gia có khoảng 1,6 ha ao nuôi tôm chân trắng được cải tạo từ bãi ngang Ngâm Cáy hoang hóa trước kia. Tháng 11/2006, gia đình đầu tư khoảng 1,8 tỷ đồng thuê máy múc, làm khung bờ, kè bê tông, lót ni-lông và phủ cát đáy ao, đầu tư hệ thống xử lý nguồn nước, diệt tạp, mua tôm giống. Đến tháng 5/2007 bắt đầu thả tôm giống với số lượng khoảng 3,2 triệu con. Do có nhiều thời gian nghiên cứu, tổng hợp bí quyết, nắm được những điểm khó, dễ trong quá trình nuôi tôm chân trắng từ các chuyến tham quan các vùng nuôi tôm ở Quảng Ninh, Nam Định trước đây nên ngay từ năm đầu tiên nuôi tôm chân trắng anh Đồng đã thu được thành công. Vụ tôm xuân – hè năm 2007, sản lượng đạt 23,5 tấn; doanh thu đạt 1,2 tỷ đồng. Từ thành công bước đầu, dự kiến cuối năm 2007 anh Đồng sẽ đầu tư mở rộng thêm khoảng từ 3- 4 ha đầm nuôi. Anh Đồng tự tin khẳng định: Trong khả năng của mình, tôi có thể nuôi khoảng 10 – 20 ha tôm chân trắng, 10 vụ thắng cả 10.

Nguyên nhân thành công ở vụ nuôi trồng này là do có sự phối hợp chỉ đạo chặt chẽ giữa ngành, các huyện, các xã; tập trung vào các việc: Quản lý thời vụ tôm nghiêm ngặt, yêu cầu nuôi theo thời vụ tốt nhất. Quản lý chặt chẽ về chất lượng tôm giống, bảo đảm con giống an toàn, không dịch bệnh. Đa dạng đối tượng nuôi, trong đó tôm sú là chính, kết hợp với nuôi cua, cá, rau câu, tôm chân trắng (ở những vùng cho phép). Kết hợp các đối tượng nuôi với nhau như: tôm + cua + rau câu; cua + rau câu; tôm + cua + cá... Hình thức nuôi được áp dụng phổ biến nhất là quảng canh cải tiến, những nơi có điều kiện thì nuôi bán thâm canh và thâm canh, kể cả những vùng được đầu tư nuôi tôm công nghiệp trước đây.

Công tác giao thầu được đổi mới cho sát với tình hình thực tế và điều kiện sản xuất của bà con nông dân. Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được quản lý chặt chẽ, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm và giá bán tôm cao hơn. Các ngành, các cấp tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn nhân dân tổ chức tham quan, học tập mô hình để ứng dụng sản xuất. Thời tiết thuận lợi cũng đã giúp con tôm sinh trưởng và phát triển ổn định.

Điểm “nhấn” quan trọng trong mùa tôm xuân - hè 2007 là việc xây dựng được phương pháp quản lý cộng đồng ở từng vùng nuôi. Tuy chưa được nhiều nhưng đây là một hướng đi đúng đắn, tạo hiệu quả cao cho việc phát triển vùng tôm. Qua quản lý cộng đồng, việc lấy nước, lấy giống, thức ăn, chữa bệnh cho tôm được tiến hành đồng bộ, thuận lợi, tránh tình trạng “điện tư, ngư chung”.

Tuy vậy, vụ xuân - hè 2007 cũng còn những tồn tại, hạn chế, đó là: Cơ sở hạ tầng nuôi thủy sản nước lợ tỉnh Thanh Hóa cực kỳ yếu kém, có tới 90% diện tích nuôi có hệ thống cấp thoát nước chung khiến rủi ro dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nuôi tôm còn rất lớn. Việc sản xuất giống chưa đáp ứng được nhu cầu, mỗi năm cung ứng khoảng 200 – 250 triệu con giống, đủ cung ứng khoảng 40 – 50% giống, còn lại là giống nhập ngoại. Chính điều này gây trở ngại cho việc quản lý chất lượng giống. Môi trường ao nuôi đang ngày càng suy giảm, đầm tôm vẫn chịu nhiều ảnh hưởng từ nguồn nước thải từ các nhà máy, khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt. Thời tiết khí hậu thay đổi thất thường, trong khi các loại thủy, hải sản, nhất là tôm đặc biệt nhạy cảm với thời tiết, dễ đổ bệnh. Vốn đầu tư huy động trong nhân dân còn hạn hẹp, người dân vùng triều nghèo, không dám mạnh dạn đầu tư nuôi tôm.

Việc nuôi tôm đã và đang khẳng định là ngành sản xuất “siêu lợi nhuận”. Với mục tiêu “Nuôi hiệu quả và phát triển bền vững” để con tôm phát huy hiệu quả, tạo đột phá giúp xóa đói giảm nghèo, thay đổi bộ mặt nông thôn, cần có quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm. Trọng tâm là khu vực nuôi phải có đường cấp thoát nước riêng để tránh lây lan dịch bệnh. Tiếp tục du nhập, khảo nghiệm giống mới, chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao ở nội địa và xuất khẩu. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về dịch bệnh và giống nhằm bảo đảm chất lượng giống. Tiếp tục củng cố và xây dựng tổ chức cộng đồng nuôi trồng thủy sản để hạn chế rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân sản xuất.

Bài và ảnh: Ngọc Hải

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Nuôi tôm hùm ở Vĩnh Tân: Gần trăm hộ dân sống trong cảnh “khóc dở, mếu dở” (06/2009)
  •  
  • Nông, lâm trường 196: “Mạnh Thường Quân" của người dân vùng cao (06/2009)
  •  
  • Cần ngăn chặn triệt để nạn xung điện huỷ diệt thuỷ sản (06/2009)
  •  
  • Thanh Hóa ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền tây (06/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,914,176


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs