Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/03/2005
Kết quả thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW về một số công tác vùng dân tộc Mông tỉnh Thanh Hoá

Phạm Thị Sửu

 

Tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.168 km2, trong đó diện tích miền núi 8.071,5 km2 chiếm 72,3% diện tích của cả tỉnh. Dân số 3,7 triệu người trong đó có hơn 60 vạn đồng bào dân tộc thiểu số, có 7 dân tộc gồm Kinh, Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao, Khơmú cùng sinh sống. Riêng đồng bào dân tộc Mông sống tập trung chủ yếu ở 45 bản, thuộc 9 xã của 3 huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá với 2.242 hộ, 14,133 khẩu. Riêng huyện Mường Lát đồng bào dân tộc Mông có 1.975 hộ, 12.194 khẩu (chiếm 42,6%).

Thực hiện công cuộc đổi mới, những năm qua đồng bào dân tộc Mông cùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống đoàn kết, vươn lên trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì vậy, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững. Từ những năm 1990 trở lại đây đồng bào Mông ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La… đã di cư tự do đến Thanh Hoá, với 1.391 hộ, 8.790 khẩu, cư trú không theo quy hoạch, dẫn đến tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn, buôn bán và sử dụng các chất ma tuý gia tăng, phá vỡ cân bằng sinh thái, ô nhiễm nguồn nước…

Trước tình hình di cư tự do có những diễn biến phức tạp, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo tập trung mở các đợt tuyên truyền sâu rộng, vận động, hướng dẫn đồng bào ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức ổn định cuộc sống, xây dựng các hương ước, quy ước văn hoá, xoá bỏ cây thuốc phiện, không tàng trữ, buôn bán và sử dụng các chất ma tuý; không truyền đạo trái phép, không chặt phá rừng… Thông qua tuyên truyền, vận động đồng bào hiểu rõ hơn về việc chấp hành và thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Tỉnh uỷ còn giao trách nhiệm cho 53 sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, giúp đỡ 51 bản đặc biệt khó khăn trong xây dựng cuộc sống và phát triển sản xuất nâng cao đời sống góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong tỉnh.

Tỉnh đã chỉ đạo xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng, quy hoạch dân cư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khai hoang mở rộng diện tích lúa nước. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình đầu tư của Chính phủ. Từ năm 1999-2003, đã khai hoang được 60 ha lúa nước, xây dựng được 20 công trình thuỷ lợi, 10 trường học, 7 công trình nước sạch, 10 trạm thu phát sóng truyền hình, 1 cầu treo, 13 công trình giao thông, hỗ trợ vốn sản xuất cho 1.228 hộ = 1.228 triệu đồng, xây dựng được 1 trung tâm cụm xã. Đời sống của đồng bào từng bước được cải thiện, các xã đều có trạm y tế và cán bộ y tế. Từ năm 2001 đến nay mỗi người dân được cấp thuốc bình quân 10.000đ/người/năm. Hơn 10 năm qua trong vùng đồng bào Mông không có bệnh dịch lớn xảy ra. Các hủ tục lạc hậu dần được xoá bỏ, các phong tục tập quán tốt đẹp đang được tiếp tục phát huy, nhiều bản xây dựng được hương ước, quy ước thôn bản. Tỷ lệ đói nghèo giảm, riêng huyện Mường Lát tỷ lệ đói nghèo giảm 5-7%, bình quân lương thực đầu người đạt 270-300 kg/người/năm.

Công tác vận động xoá bỏ cây thuốc phiện, định canh định cư đã được tỉnh đặc biệt quan tâm. Trước năm 1992, tỉnh Thanh Hoá có khoảng 1000 ha cây thuốc phiện, sản lượng thu hoạch từ 3-5 tấn/năm. Thực hiện Nghị quyết 06/CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý, tỉnh đã tập trung chỉ đạo vận động đồng bào xoá bỏ cây thuốc phiện; chống tái trồng cây thuốc phiện; tổ chức cho đồng bào ký cam kết không tái trồng cây thuốc phiện; không tàng trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng các chất ma tuý. Đồng thời tập trung giải quyết vấn đề đời sống cho đồng bào như hỗ trợ đời sống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chăm lo đời sống, y tế, văn hoá, cơ sở hạ tầng… Do làm tốt công tác tuyên truyền vận động và được sự đồng tình ủng hộ của đồng bào cho đến nay diện tích cây thuốc phiện gần như được xoá bỏ.

Tỉnh cũng đã chỉ đạo thực hiện cuộc vận động định canh định cư, nhất là với số đồng bào Mông di cư tự do từ các tỉnh đến. Từ năm 1998-2002, 3 dự án đã được thực hiện với tổng kinh phí là 21,3 tỷ đồng; đã vận động, di chuyển được 652 hộ với 4.556 khẩu ra nơi ở mới quy hoạch, đạt trên 90% số hộ quy hoạch. Đến nay các bản đã tương đối ổn định.

Xuất phát từ vị trí vùng đồng bào Mông có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng, tỉnh Thanh Hoá đã chỉ đạo xây dựng củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Tỉnh đã có hướng dẫn cụ thể về kết nạp đảng viên đối với người dân tộc thiểu số ở các thôn, bản chưa có đảng viên và những chi bộ sinh hoạt ghép. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được quan tâm. Vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và những người có uy tín được phát huy. Các bản Mông mới di cư đến bước đầu đã được kiện toàn đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên hiện còn 26 bản không có chi bộ, 25 bản không có đảng viên… Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn nhiều hạn chế. Đời sống của đồng bào tuy đã được cải thiện song vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn cao. Đặc biệt là người Mông mới di cư đến địa phương. Xã Trung Lý huyện Mường Lát có 465/555 hộ đói nghèo, trong đó 104 hộ đói gay gắt; xã Tam Trung 164/164 hộ đói nghèo… Cơ sở hạ tầng còn thấp kém, diện tích lớn nhưng đất canh tác thiếu, trình độ sản xuất thấp vẫn mang tính tự cung tự cấp, chưa đi vào sản xuất hàng hoá. Nhiều nơi còn lúng túng trong việc xác định, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước… 95% số phòng học ở các bản là tranh tre nứa lá, cơ sở vật chất thiếu thốn. Số trẻ em trong độ tuổi không đi học chiếm 30-45%, đặc biệt là trẻ em nữ tỷ lệ mù chữ cao (52,8%). Việc dạy và học tiếng Mông còn thấp, chất lượng chưa đáp ứng được với yêu cầu đề ra. Các thiết chế văn hoá cơ sở còn nhiều hạn chế, hủ tục trong ma chay, cưới xin còn nặng nề và tốn kém. Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân chưa được đáp ứng, sinh đẻ còn tràn lan.

Vấn đề truyền đạo trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ở những nơi có đông đồng bào Mông di cư đến. Tình hình di cư tự do tuy có giảm hơn trước nhưng vẫn tiếp tục diễn ra. Toàn tỉnh có 1.213 hộ với 8.454 khẩu di cư đến. Trong số này có 101 khẩu di cư nội tỉnh, 79 hộ di cư vào Tây Nguyên, 33 hộ sang Lào và 66 hộ về quê cũ. Hiện tượng lén lút trồng cây thuốc phiện vẫn còn, vấn đề tội phạm ma tuý, cai nghiện còn nhiều khó khăn. Tình hình an ninh biên giới cũng còn diễn biến phức tạp.

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc và tôn giáo; tiếp tục quán triệt thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW về một số vấn đề phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc Mông, tỉnh Thanh Hoá đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm cùng những chỉ tiêu cụ thể nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi trong tỉnh, nhất là vùng đồng bào Mông, đó là:

1. Tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong đó có đồng bào dân tộc Mông. Trước hết, tập trung giải quyết vấn đề bức xúc về đời sống như tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà tranh tre… Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng khai thác tiềm năng phát triển hàng hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho đồng bào. Phát triển toàn diện văn hoá xã hội vùng dân tộc Mông…

- Về giáo dục: phấn đấu đến năm 2005 các xã, bản đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; đến 2007 phổ cập trung học cơ sở.

- Về y tế: phấn đấu đến năm 2005, 100% bản có cán bộ y tế hoạt động, năm 2010 các trạm y tế xã có bác sĩ.

- Về văn hoá thông tin: xây dựng các trạm tiếp sóng truyền hình TVRO cho bản xa trung tâm huyện đảm bảo nguồn điện cho các trạm tiếp sóng.

Hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước thôn bản, đấu tranh xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc.

2. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng: chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình, dự án trên địa bàn vùng đồng bào Mông như: Chương trình 135 và các chương trình dự án khác.

Phấn đấu đến 2010, 100% số xã và phần lớn các bản được sử dụng điện lưới quốc gia, 100% số xã có bưu điện văn hoá xã.

Đến năm 2005 tất cả các phòng học căn bản đều được xây dựng kiên cố.

3. Tiếp tục thực hiện công tác định canh định cư và vận động xoá bỏ cây thuốc phiện.

4. Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, thực hiện tốt công tác cán bộ. Tăng cường công tác an ninh chính trị và tôn giáo.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,300,578


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs