Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/03/2005
Bảo tồn và phát triển các dân tộc thiểu số rất ít người

Nguyễn Minh Duy

(Vụ Chính sách Dân tộc)

 

Nước ta có 54 dân tộc anh em; mỗi dân tộc đều có nguồn gốc, dân số, điều kiện tự nhiên, đặc trưng văn hoá và quá trình phát triển riêng. Theo kết quả điều tra dân số của Tổng cục thống kê năm 1999, 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8% dân số của cả nước, quy mô dân số như sau: 12 dân tộc có số dân từ 10 vạn người trở lên, 21 dân tộc có số dân từ 1 vạn đến 10 vạn người, 15 dân tộc có số dân từ 1000 người đến 10.000 người, 5 dân tộc có số dân dưới 1000 người. Cụ thể: Si La 840 người, Pu Péo 705 người, Rơ Măm 352 người, Brâu 313 người, Ơ Đu 301 người.

Dân tộc Si La sống tập trung tại hai bản Seo Hai và Sì Thâu Chải thuộc xã Can Hồ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và ở bản Nậm Sim xã Chung Chải huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Dân tộc Pu Péo ở tỉnh Hà Giang cư trú tại 3 huyện: Đồng Văn, Yên Minh, Bắc Mê. Dân tộc Rơ Măm cư trú ở làng Le xã Ma Ray huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum. Dân tộc Brâu cư trú làng Đắc Mế xã Bờ Y huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Dân tộc Ơ Đu cư trú ở 6 xã, huyện Tương đương tỉnh Nghệ An, trong đó xã Kim Đa là đông nhất.

Năm dân tộc rất ít người cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của các tỉnh, nơi điều kiện địa lý đặc biệt khó khăn, địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông cách trở, kinh tế tự cung tự cấp, đời sống cực kỳ khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao nhất nước; cơ sở hạ tầng thiết yếu hết sức sơ khai, trình độ dân trí thấp kém đang có nguy cơ tụt hậu về chất lượng dân số, mai một về văn hoá… Những năm qua, Nhà nước đã quan tâm triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, nhưng sự đầu tư đó còn dàn trải, chủ yếu mới với tới trung tâm xã, những thôn bản của các dân tộc này mới được đầu tư rất ít, hơn nữa do các yếu tố lịch sử, điều kiện tự nhiên khó khăn, điểm xuất phát về kinh tế - xã hội quá thấp, nên đến nay 5 dân tộc vẫn trong tình trạng đói nghèo, lạc hậu, không tự vươn nên được và đang đứng trước những nguy cơ tụt hậu, những khó khăn thử thách, đó là:

Trình độ sản xuất lạc hậu, đời sống khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao nhất so với cả nước. Năm dân tộc rất ít người hầu hết là cư dân nông nghiệp, chủ yếu phát rẫy làm nương, ít canh tác lúa nước, hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Với trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, chưa biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, năng suất lao động thấp, do vậy, quanh năm người dân sống trong cảnh đói nghèo, tỷ lệ đói nghèo bình quân trên 60% số hộ (dân tộc Si La 80-90%, dân tộc Ơ Đu 85,5%, dân tộc Pu Péo 38%, dân tộc Brâu 51%...). Thu nhập bình quân đầu người rất thấp, dân tộc Ơ Đu 25 nghìn đồng/tháng, dân tộc Pu Péo 16-24 nghìn đồng/tháng, dân tộc Brâu 36 nghìn/tháng, lương thực không đủ ăn, hàng năm thiếu ăn từ 3 đến 6 tháng. Dân tộc Brâu và Rơ Măm hàng năm tỉnh phải cứu đói cho đồng bào vào kỳ giáp hạt.

Bản sắc văn hoá dân tộc đang bị mai một và đồng hoá. Năm dân tộc này chỉ có tiếng nói, không có chữ viết. Văn hoá dân tộc chỉ được lưu giữ, phát triển qua truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với các dân tộc khác, những đặc trưng văn hoá của họ có sự pha trộn, giao thoa, tình trạng văn hoá bị mai một và có xu hướng bị đồng hoá. Dân tộc Ơ Đu hiện nay nhiều người không biết tiếng mẹ đẻ, mà chủ yếu nói tiếng Thái, tiếng Khơ Mú. Dân tộc Si La tiếng nói lai căng với một số dân tộc khác nói chung ngôn ngữ Tạng - Miến như Hà Nhì, La Hủ, Mông, Cống; dân tộc Brâu, ngôn ngữ có xu hướng pha lẫn với các dân tộc khác như Ba Na, Xê Đăng, Ka Dong. Hiện nay, ở một số vùng trẻ em dân tộc Pu Péo nói tiếng Mông sõi hơn tiếng mẹ đẻ. Dân tộc Ơ Đu từ nhà cửa, trang phục, cưới hỏi, ma chay… đều pha trộn, vay mượn của người Thái và người Khơ Mú trong vùng; người Rơ Măm trang phục quần áo, đồ dùng truyền thống không được duy trì thường xuyên; một số di sản văn hoá của các dân tộc này chưa được chú trọng, bảo tồn, duy tu; các điệu múa, hát dân ca, tục ngữ được lưu truyền lại rất ít. Các nghề truyền thống dân tộc như dệt vải, dệt thổ cẩm, đan lát… chưa được chú trọng phát triển.

Trình độ dân trí thấp, hủ tục và các tệ nạn xã hội chậm được khắc phục. Số người mù chữ, tái mù chữ, thất học chiếm tỷ lệ cao: Dân tộc Brâu 68,6%; Si La 73%, tỷ lệ người biết tiếng phổ thông 15%. Đa số con em người dân tộc này chỉ học hết lớp 2,3. Đời sống văn hoá tinh thần chậm được cải thiện, thông tin báo chí đến với người dân chưa nhiều, chưa kịp thời, đồng bào nhận thức xã hội còn rất hạn chế, tâm lý tự ti, mặc cảm, không tự vươn lên càng làm cho đời sống của đồng bào thêm khó khăn.

Dân số phát triển chậm, có nguy cơ suy thoái giống nòi. Dân số các dân tộc rất ít người đang có những vấn đề cần được quan tâm. Dân số Si La ở Lai Châu năm 1996 (số liệu điều tra của tỉnh) có 400 người, đến năm 2004 có 451 người, trong 8 năm chỉ tăng được 51 người; dân tộc Brâu từ năm 1999 đến 2003 chỉ tăng 9 người; dân tộc Rơ Măm tăng dân số không đáng kể. Tình trạng hữu sinh vô dưỡng, công tác y tế không đảm bảo, nhiều cặp vợ chồng không có con dẫn đến tình trạng dân số tăng chậm.

Năm dân tộc đã và đang diễn ra nguy cơ suy thoái giống nòi do quan hệ hôn nhân cận huyết thống, chất lượng dân số thấp, sức khoẻ yếu và bệnh tật nhiều. Người Si La có xu hướng nhỏ dần; người Brâu, Rơ Măm có nhiều dị tật bẩm sinh, bệnh tật. Mức hưởng thụ các dịch vụ y tế, xã hội thấp, một số bệnh xã hội như sốt rét, bướu cổ, bệnh phong vẫn chiếm tỷ lệ cao.

Để giải quyết những vấn đề bức xúc đối với 5 dân tộc rất ít người nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp đồng bào sớm hoà nhập với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc khác trong vùng, bảo tồn và phát triển bền vững các dân tộc rất ít người, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Uỷ ban Dân tộc chủ trì tổ chức hướng dẫn các tỉnh xây dựng dự án Hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Uỷ ban Dân tộc đã chủ trì phối hợp với các địa phương, thống nhất chọn 5 dân tộc có số dân dưới 1000 người là: Si La, Pu Péo, Ơ Đu, Brâu và Rơ Măm để khảo sát xây dựng dự án. Tháng 6/2004, các dự án tiền khả thi đã xây dựng xong và trình Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ đã có Công văn số 933/CP-ĐP ngày 5/7/2004 giao cho Uỷ ban Dân tộc và các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Nghệ An và Kon Tum tiếp tục xây dựng hoàn thiện dự án khả thi Hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người. Các tỉnh đã khẩn trương hoàn thiện dự án. Đến nay, các dự án đã trình Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Uỷ ban Dân tộc để thẩm định, phê duyệt và đưa vào kế hoạch thực hiện từ năm 2005.

Chúng ta hy vọng rằng với sự quan tâm và hỗ trợ đầu tư của Đảng và Nhà nước, với trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các địa phương và sự vươn lên của các dân tộc, dự án Hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người được thực hiện có hiệu quả, sớm đưa các dân tộc này thoát khỏi tình trạng chậm tiến và lạc hậu hiện nay, hoà nhập được với cộng đồng các dân tộc khác trong vùng.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,300,910


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs