Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Kết quả thực hiện chế độ cử tuyển ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1990 đến năm 2005


Hướng dẫn học sinh Khơ mú ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Nghĩa Lộ, Yên Bái.

Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, từ những năm 1990, cùng với việc mở rộng đầu tư xây dựng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tuyển sinh các lớp riêng hệ cử tuyển tại một số trường đại học, cao đẳng và trung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cán bộ dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Đó là chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số cho các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn - trong đó có các tỉnh miền núi phía Bắc.

Thực tế mười lăm năm thực hiện chế độ cử tuyển học sinh các dân tộc thiểu số vào các trường cao đẳng và đại học đã thu được thành tựu đáng mừng, khẳng định chính sách cử tuyển là hình thức phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số trực tiếp, có hiệu quả nhất.

 Trong thời kỳ đầu tiên (1990-1995) thực hiện chế độ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường cao đẳng và đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương mở các lớp riêng tại một số trường đại học, cao đẳng, đào tạo theo hình thức tập trung với chương trình đào tạo hệ đại học ngắn hạn, nhưng không rút ngắn thời gian đào tạo và dạy với nhịp độ chậm hơn hệ chuẩn để học sinh có thể tiếp thu được. 25 trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã được giao nhiệm vụ đào tạo hệ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số. Riêng khu vực phía Bắc có 18 trường thực hiện hình thức đào tạo này.

 Về cơ cấu ngành nghề đào tạo chủ yếu tập trung vào các ngành: nông - lâm nghiệp, sư phạm, y tế và từng bước chuyển dần sang lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm của miền núi, vùng sâu, vùng xa, để số cán bộ này sau khi tốt nghiệp ra trường có kiến thức chuyên môn đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp thiết của địa phương.

 Về đối tượng xét tuyển trong thời kỳ này được xác định là học sinh dân tộc thiểu số khu vực I - vùng cao, khu vực I - vùng sâu và hải đảo; độ tuổi trung bình tuyển chọn đến 35 tuổi, nếu phải học dự bị đại học thì tuổi không quá 33. Trường hợp học sinh dân tộc thiểu số quá ít người ở vùng cao thì có thể tuyển những người chỉ học hết chương trình lớp 12 trung học phổ thông. Trong 6 năm (từ 1990 đến 1995), đã tuyển được 2531 học sinh dân tộc thiểu số/ 2684 chỉ tiêu khu vực niềm núi phía Bắc, đạt 94,3% so với chỉ tiêu được giao. Các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện cử tuyển vượt 5,4% so với tỷ lệ thực hiện trung bình cả nước, đặc biệt có một số tỉnh và một số trường đã thực hiện vượt chỉ tiêu được giao với tỷ lệ khá cao. Nhìn chung các địa phương và các trường đều thực hiện đúng đối tượng cử tuyển, đúng vùng cử tuyển quy định và vận dụng trong phạm vi cho phép, không có những sai phạm nghiêm trọng. Đó thực sự là một thành tựu lớn của các tỉnh miền núi phía Bắc trong công tác phát triển nguồn cán bộ dân thiểu số trong những năm đầu tiên thực hiện chế độ cử tuyển học sinh vào cao đẳng và đại học. Tuy vậy trong thời kỳ này đã xuất hiện một số sai phạm và hạn chế.

 Do đó đầu năm 1996, Bộ Giáo dục và Đạo tạo đã tổ chức Hội nghị sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện chế độ cử tuyển thời kỳ 1990- 1995, rút kinh nghiệm để những năm tiếp theo chế độ cử tuyển được thực hiện nghiêm túc hơn và có hiệu quả hơn. Đồng thời kiến nghị với Nhà nước tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tạo thêm những điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học dân tộc và các trường đại học, cao đẳng được giao nhiệm vụ đào tạo hệ cử tuyển đối với học sinh dân tộc thiểu số. Bước đầu kiểm tra đánh giá việc bố trí sử dụng số cán bộ đã được đào tạo qua hệ cử tuyển tại các địa phương cử đi học.

Nguồn cử tuyển chủ yếu trong thời kỳ này là những học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp phổ thông trung học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc vùng cao Việt Bắc có hộ khẩu thường trú ở các vùng tuyển quy định, đảm bảo tuyển đúng tỷ lệ đối với học sinh là người Kinh. Sau hội nghị sơ kết này, trong 3 năm từ 1996 - 1999, cả khu vực miền núi phía Bắc chỉ cử tuyển được 65 em là học sinh người Kinh, chiếm 4,8%; cử tuyển được 1352 học sinh dân tộc thiểu số/1363 chỉ tiêu đạt 98,8%. Có một số tỉnh đã thực hiện vượt chỉ tiêu: Tỉnh Cao Bằng: 131%; tỉnh Thái Nguyên 150%; tỉnh Yên Bái: 105% và trường phổ thông dân tộc vùng cao Việt Bắc 468,2%; Khoa dự bị trường Đại học Lâm nghiệp: 200%. Trong khi đó có một số tỉnh thực hiện cử tuyển đạt tỷ lệ thấp so với chỉ tiêu được giao: Tỉnh Lai Châu đạt 57,4%; tỉnh Phú Thọ đạt 59,35%; tỉnh Quảng Ninh đạt 66,2%; tỉnh Sơn La đạt 76,7%; tỉnh Lào Cai đạt 77,4%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, trường hợp các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Lào Cai thật sự gặp khó khăn về nguồn cử tuyển; nhưng trường hợp 2 tỉnh Phú Thọ và Quảng Ninh thì lại lúng túng trong việc xác định đối tượng cử tuyển tại địa phương.

 Khi Nhà nước ban hành Luật Giáo dục năm 1998, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số: 135/1998/QĐ- TTg, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặt biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Căn cứ theo điều 78 của Luật Giáo dục và Quyết định của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Uỷ ban Dân tộc và miền núi (nay là Uỷ ban Dân tộc) đã ban hành Thông tư Liên tịch số 40/2001/TTLT/BGD& ĐT- BTCCBCP - UBDT&MN ngày 26/2/2001 “Hướng dẫn tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, (nay là trung cấp) theo chế độ cử tuyển”.

 Trên cơ sở của pháp luật hiện hành, hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn các địa phương thực hiện việc xét tuyển đảm bảo đúng đối tượng, đúng vùng tuyển đã quy định tại các xã đặc biệt khó khăn, các xã biên giới, an toàn khu thuộc diện hỗ trợ đầu tư của chương trình 135 CP. Trải qua 7 năm thực hiện chế độ cử tuyển theo Luật Giáo dục, trên địa bàn miền núi phía Bắc đã tổ chức thực hiện được 3.700/3.823 học sinh đạt 96,8%.

 Thời kỳ này, có thêm một số trường được giao nhiệm vụ đào tạo học sinh dân tộc thiểu số theo chế độ cử tuyển cho miền núi phía Bắc đó là: Trường Đại học Tây Bắc (đặt tại Sơn La); trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Tây; trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn; Học viện An ninh nhân dân; Học viện Tài chính - Kế toán.

 Việc thực hiện chế độ cử truyển trong thời kỳ này rất chú ý đến các dân tộc đặc biệt ít người, chưa có hoặc có rất ít học sinh đã theo học hệ cử tuyển trong các thời kỳ trước như: Ngái, Lự, Si la, Lô Lô, Cống, Cờ Lao, Pà Thẻn, La Hủ, La Ha… Những dân tộc này còn chưa có đủ nguồn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học để thực hiện chế độ cử tuyển. Bộ giáo dục và Đào tạo đã thông báo đến uỷ ban nhân dân các tỉnh có học sinh thuộc các dân tộc nói trên đang học phổ thông trung học từ lớp 10 đến lớp 12 đưa về bồi dưỡng văn hoá tại Trường phổ thông dân tộc vùng cao Việt Bắc, năm học 2005 -2006 đã tuyển chọn được 62/74 em để tạo nguồn cử tuyển vào đại học, cao đẳng và trung cấp từ năm học 2007 - 2008. Đây là một cố gắng lớn của các địa phương, của ngành giáo dục trong việc tạo nguồn cử tuyển để đào tạo cán bộ cho các dân tộc đặc biệt ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.

 Như vậy, trong vòng 15 năm thực hiện chế độ cử tuyển tại khu vực miền núi phía Bắc đã đào tạo được 7583 học sinh dân tộc thiểu số/ 7856 chỉ tiêu kế hoạch được giao, đạt 96,5%. Nếu so sánh với tổng số học sinh cử tuyển trong cả nước thì riêng miền núi phía Bắc đã chiếm 52,4%. Đã có 26/30 dân tộc thiểu số đang sinh sống ở miền núi phía Bắc có học sinh được cử tuyển vào các trường Đại học, cao đẳng và trung cấp. Mặc dù có 7 dân tộc mới chỉ cử tuyển từ 1 đến 2 học sinh trong vòng 15 năm qua, nhưng đây là một thành tựu chưa từng có trong công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số trong thập kỷ qua. Điều đó chứng tỏ rằng: “… chủ trương cử tuyển là quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn đề cán bộ dân tộc, nó sẽ là tiền đề cho việc phấn đấu thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Một quan điểm xuyên suốt của Đảng ta đã được thể chế hoá trong điều 5 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

 Trên chặng đường thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mặc dù đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn tập trung đầu tư để thực hiện chế độ cử tuyển đạt được những kết quả tốt đẹp trong 15 năm qua là những cố gắng cao độ cần trân trọng ghi nhận. Mặc dù ngân sách còn hạn hẹp nhưng Đảng và Nhà nước vẫn vận dụng chính sách thực hiện chế độ học bổng, chế độ trợ cấp đảm bảo cho các học sinh dân tộc thiểu số học tốt để xây dựng đất nước.

 Tuy còn một số ý kiến đánh giá chưa thống nhất về chất lượng, hiệu quả đào tạo của hệ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường cao đẳng và đại học, song, như trên đã phân tích, thực hiện chế độ cử tuyển chính là phương thức phát triển nguồn cán bộ dân tộc trực tiếp, đang mang lại những hiệu quả thiết thực sự cho phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương vùng miền núi phía Bắc nước ta. Theo điều tra của Bộ giáo dục và Đào tạo 87,2% sinh viên tốt nghiệp hệ cử tuyển trở về quê hương công tác đúng ngành nghề được đào tạo, chấp hành nghiêm chỉnh sự phân công của cơ quan tổ chức các địa phương. Kết quả đó có thể khẳng định rằng: sự phát triển, trưởng thành của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc trong 20 năm qua luôn luôn gắn liền với những nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội vì chất lượng nguồn lực con người, vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện, bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

ThS. Lô Quốc Toản

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,440,791


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.4 secs