Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Kinh tế trang trại phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La
Theo số liệu thống kê năm 2005, dân số toàn tỉnh của Sơn La là 991.792 người, trong đó dân tộc Thái có số dân đông nhất, chiếm 54,8% dân số toàn tỉnh, tiếp theo là dân tộc Mông 12,72%, dân tộc Mường 8,02%; dân tộc Xinh Mun 1,94%... Dân tộc Thái, sống tập trung với số lượng lớn tại các huyện, thị (tại huyện Thuận Châu với 104.387 người, huyện Bắc Yên có khoảng 16.000 người); dân tộc Mông sinh sống chủ yếu tại các huyện Sông Mã, Mộc Châu, Bắc Yên; dân tộc Mường tập trung sinh sống tại huyện Phù Yên và 2 huyện Mộc Châu và Bắc Yên, các huyện, thị xã có số lượng ít.

Các dân tộc có dân số ít hơn dân tộc Thái, Mông như Xinh Mun, Dao, Khơ Mú chủ yếu sinh sống ở vùng cao, vùng giữa của một số huyện, ngoài ra các dân tộc thiểu số khác có mặt trên địa bàn tỉnh sống rải rác với số lượng không nhiều như dân tộc Kháng, La Ha, Lào...

 Năm 2005, Sơn La có 120 trang trại, trong đó Mộc Châu là huyện có số trang trại lớn nhất tỉnh Sơn La là 79 trang trại, Thuận Châu có 19 trang trại huyện Mai Sơn với 7 trang trại, Yên Châu với 6 trang trại, Bắc Yên với 4 trang trại, Phù Yên 2 trang trại. Các trang trại có quy mô đất đai bình quân 4,79 ha/trang trại; số lượng đàn gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác: trâu, bò có 1190 con; lợn (không kể lợn sữa) có 671 con; gia cầm có 5.856 con, dê có 215 con, ong 95 đàn. Vốn sản xuất bình quân 1 trang trại là 222,69 triệu đồng, thu nhập bình quân 1 trang trại đạt 41,54 triệu đồng.

 Về trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số Sơn La cũng đã có sự phát triển bước đầu. Về số lượng, chiếm tỷ lệ khoảng 54,16% số trang trại toàn tỉnh, trong đó có 3 dân tộc Thái, Mường, Mông tham gia sản xuất trang trại, trong đó trang trại của dân tộc Thái chiếm đa số. Có 5 ngành nghề sản xuất chủ yếu là: cây hàng năm, cây lâu năm, lâm nghiệp, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp, trong đó số lượng trang trại chăn nuôi và cây lâu năm là nhiều nhất; lâm nghiệp, cây hàng năm và kinh doanh tổng hợp chiếm tỷ lệ thấp hơn.

 Kinh tế trang trại của Sơn La nói chung và của hộ dân tộc thiểu số Sơn La nói riêng trong một số năm gần đây có xu hướng tăng lên, trong đó tăng chậm về số lượng, giảm về quy mô diện tích nhưng xét về mặt hiệu quả kinh tế, mức vốn đầu tư và giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ tăng khá. Nhiều loại hình sản xuất khá phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và tự nhiên của Sơn La. Loại hình trang trại chăn nuôi bò sữa, trồng cây hàng năm, cây lâu năm đã khẳng định được vị thế, tạo ra thương hiệu sản phẩm trong nông nghiệp. Kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hoá phát triển, tạo ra một số mô hình sản xuất cụ thể để có thể giúp cho nông dân tham khảo, học tập kinh nghiệm; bước đầu sử dụng có hiệu quả đất trống hoang hoá, tạo thêm lao động việc làm cho nông dân, huy động và sử dụng các nguồn vốn vào phát triển sản xuất...

 Tuy nhiên, để đánh giá thực sự chính xác rất cần được nghiên cứu sâu và cụ thể, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý cho kinh tế trang trại vùng này phát triển, nhất là đối với trang trại của những hộ dân tộc thiểu số tại chỗ. Đây là một địa bàn có trên 80% dân tộc thiểu số, đất đai rộng, có vị trí xung yếu về cả môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng... Muốn đạt được điều đó việc khởi đầu là phải xác định cho đúng, đủ các phương pháp tiếp cận.

 1. Phương pháp tiếp cận duy vật: Đây được coi là phương pháp chung, bao hàm cả phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Việc tiếp cận duy vật biên chứng là để xác định được các mối quan hệ biện chứng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển trang trại của hộ dân tộc thiểu số Sơn La cụ thể: Mối quan hệ với hạ tầng cơ sở kỹ thuật (giao thông, thuỷ lợi; điện, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật...); điểm xuất phát về kinh tế; công tác quy hoạch, phát triển sản xuất; về tỷ lệ dân tộc thiểu số sinh sống; trình độ dân trí; tập quán sản xuất; Khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá; trình độ và năng lực tổ chức sản xuất...

 Tiếp cận duy vật lịch sử dưới góc độ đặt kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La trong lịch sử hình thành, tồn tại và vận động phát triển. Tại mỗi giai đoạn lịch sử nó có những đặc thù riêng. Vì nếu chỉ phân tích đánh giá trong một giai đoạn nhất định, không tính đến sự ảnh hưởng của các giai đoạn trước và sau nó, dễ dẫn đến những kết luận phiến diện, hoặc không đúng với bản chất.

 2. Phương pháp tiếp cận dựa trên quan điểm kinh tế: Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội kết hợp phát triển bền vững: Chúng ta phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại của hộ đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La, làm rõ: Về hiệu quả kinh tế so với thực trạng phát triển như hiện nay đã tốt chưa? Hiệu quả xã hội, môi trường như thế nào? (Việc thu hút, tạo việc làm cho người lao động; khía cạnh khôi phục và cải thiện môi trường sống, giữ cân bằng hệ sinh thái rừng). Ngoài ra khi nghiên cứu còn phải tính đến khía cạnh an ninh chính trị trong phát triển trang trại ở Sơn La, đặc biệt là khu vực biên giới; xem xét đến việc sử dụng khai thác các tài nguyên hiện có của Sơn La để phát triển trang trại đã thực sự hợp lý hay chưa, có gây ảnh hưởng tiêu cực hay làm mất đi các tài nguyên của tỉnh hay không. Như vậy có thể xảy ra trường hợp, khi nghiên cứu về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số, nếu xét góc độ về kinh tế, trang trại đó không thực sự hiệu quả nhưng dưới góc độ bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, tạo độ che phủ đất, làm giảm thiểu tác hại của thiên tai xảy ra, lợi ích về an ninh quốc phòng; lợi ích về giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc.. thì về tổng thể các lợi ích đó sẽ lớn hơn rất nhiều so với hiệu quả kinh tế đem lại.

 - Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng kinh tế thị trường. Mặc dù phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số ở Sơn La có nhiều mục tiêu khác nhau như đã nêu trên, song mục tiêu quan trọng nhất vẫn là hiệu quả kinh tế, đồng nghĩa với việc gắn chặt sản xuất với thị trường. Việc áp dụng cách tiếp cận này nhằm chỉ rõ tổng thể các mối quan hệ và mức độ quan hệ của các chủ trang trại là người dân tộc thiểu số tại Sơn La như: Mối quan hệ giữa chủ trang trại với thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường đầu ra; xem xét, xác định thế mạnh là gì? Lợi thế so sánh cụ thể? So sánh về mức độ gắn bó với thị trường giữa các hộ trang trại là người dân tộc thiểu số so với các chủ trang trại người Kinh, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu để từ đó có hướng khắc phục; định hướng đầu tư để phát triển kinh tế trang trại như thế nào, chọn hướng sản xuất kinh doanh dịch vụ nào cho phù hợp với yêu cầu của thị trường; vấn đề liên kết liên doanh, cạnh tranh trong sản xuất trang trại…

 - Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng kinh tế hộ, đây là phương pháp tiếp cận cơ bản và xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại chủ yếu được hình thành từ nền tảng kinh tế hộ. Do vậy tiếp cận để nghiên cứu, phân tích nó phải vận dụng các lý thuyết liên quan đến kinh tế hộ. Ngoài ra, do đối tượng nghiên cứu cụ thể là trang trại của hộ đồng bào dân tộc thiểu số nên việc tiếp cận phải tính đến các yếu tố đặc thù của nó là chủ trang trại là người dân tộc thiểu số, nhất là tại Sơn La, một tỉnh miền núi vùng cao biên giới. Phải tiếp cận đến những mối quan hệ đặc thù trong tập quán sản xuất và đời sống của hộ.

 3. Phương pháp tiếp cận hệ thống. Tiếp cận hệ thống có nghĩa là khi tiếp cận một đối tượng nghiên cứu cụ thể phải xem xét, đặt nó trong một hệ thống mối quan hệ nhất định. Trang trại và kinh tế trang trại của hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nếu xét trong từng mối quan hệ cụ thể, chúng ta thấy rằng chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ trong một hệ thống nhất định. Do đó khi tiếp cận để nghiên cứu đánh giá kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số phải quan tâm đến phương pháp tiếp cận này:

 Tiếp cận hệ thống dọc: Tiếp cận theo hệ thống dọc ở đây chủ yếu là theo quản lý xã hội gồm: Trung ương-tỉnh-huyện-xã- làng, bản, thôn, xóm-hộ gia đình...; theo hệ thống chính sách có: Hệ thống các chủ trương, chính sách vĩ mô của nhà nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông dân, trang trại; hệ thống các chính sách, quy định của các bộ ngành Trung ương để triển khai các chủ trương chính sách vĩ mô nêu trên; hệ thống các chủ trương, quy định của địa phương có liên quan... Ví dụ ngày 02/2/2000 Chính phủ có Nghị quyết số 03/NQ-CP về kinh tế trang trại; ngày 23/6/2000 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê, đã ban hành Thông tư Liên tịch số 69 về việc hướng dẫn tiêu chí xác định trang trại; tiếp đó ngày 20/5/2003 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với Tổng cục Thống kê đã tiếp tục ban hành Thông tư số 62 về việc hướng dẫn tiêu chí định lượng sửa đổi, bổ sung để xác định là kinh tế trang trại; ngày 7/4/2003 Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có Thông tư số 74 về việc sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch số 69 về việc hướng dẫn tiêu chí xác định trang trại. Đối với Sơn La, ngày 22/12/1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 3210/1999/QĐ-UB về việc ban hành chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại đẩy mạnh sản xuất hàng hoá của tỉnh... Khi xem xét về hệ thống chính sách còn phải tiếp cận các chính sách có liên quan khác như: Chính sách về đất đai; chính sách về vốn, lao động; chính sách về thị trường; chính sách về khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất.. Hệ thống chính sách này còn được xem xét trong phạm vi không gian, thời gian nhất định.

 - Tiếp cận hệ thống ngang: Chủ yếu là hệ thống các trang trại có cùng một ngành nghề sản xuất; hệ thống các trang trại có trong cùng một thời điểm, một giới hạn địa lý nhất định như một xã, một huyện, hay trong toàn tỉnh...; hệ thống các trang trại có chủ hộ là người dân tộc thiểu số, của từng dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu; hệ thống chính sách đặc thù ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội, nhất là các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, trọng điểm an ninh chính trị, quốc phòng. Trang trại là một bộ phận gắn bó hữu cơ trong hệ sinh thái miền núi, gắn với môi trường, nguồn nước...

 Tiếp cận hệ thống ngành bao gồm: Tiếp cận trong một ngành sản xuất: Trong nông nghiệp thì có chăn nuôi, trồng trọt; trong ngành chăn nuôi có nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, đại gia súc, chăn nuôi gia cầm. Tiếp cận đa ngành như: Nông nghiệp (trong đó có trang trại) - Lâm nghiệp (có trang trại) - Công nghiệp chế biến (chế biến các sản phẩm nông - lâm nghiệp) - Dịch vụ (đầu vào, đầu ra các sản phẩm từ nông nghiệp, trang trại); tiếp cận hệ thống ngành trong nghiên cứu kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La đồng nghĩa với việc cần phân tích đánh giá xem ngành nghề sản xuất của các trang trại được tổ chức như thế nào; phân loại các loại hình cụ thể để nghiên cứu, trên cơ sở đó xem xét tính hoàn chỉnh, hợp lý và hiệu quả của hệ thống ngành cho phù hợp với trình độ sản xuất kinh doanh và điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng.

 4. Phương pháp tiếp cận xã hội học: Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số là một hiện tượng kinh tế-xã hội, nó mang tính tất yếu đối với một nền sản xuất hàng hoá, tương ứng với một giai đoạn phát triển xã hội nhất định. Đối với Sơn La, một tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống thì việc xem xét dưới góc độ xã hội học trong phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số chính là việc nghiên cứu xem trong cộng đồng xã hội các dân tộc thiểu số Sơn La có bao nhiều thành phần dân tộc tham gia vào sản xuất kinh tế trang trại; phân tích sự ảnh hưởng của các chủ hộ là người dân tộc thiểu số đối với các hộ gia đình cùng sinh sống trong bản, trong khu vực; xem xét sự giao lưu trao đổi với bên ngoài; xem xét về hình thức tổ chức lao động sản xuất; xem xét về độ tuổi và trình độ văn hoá...

 5. Phương pháp tiếp cận dân tộc học: Tiếp cận này được hiểu là phải đặt sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với những vấn đề về dân tộc học. Mỗi dân tộc thiểu số có những nét riêng về lịch sử hình thành đời sống văn hoá truyền thống; điểm xuất phát về kinh tế, tổ chức xã hội, về tập quán sinh hoạt và sản xuất... và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất và đời sống đến quá trình phát triển tộc người. Vì vậy, nghiên cứu phát triển sản xuất nói chung và nghiên cứu về phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số nói riêng, trước hết phải nắm rõ, hiểu kỹ những vấn đề cốt yếu, đặc trưng nhất về văn hoá, kinh tế, tổ chức xã hội, đời sống và tập quán sản xuất... của từng dân tộc, mà thực chất là phải nắm vững các nội dung liên quan đến dân tộc học.

 6. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của chủ trang trại (PRA) và tiếp cận theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) : Trước hết là tiếp cận theo phương pháp PRA, thông qua hoạt động giữa người nghiên cứu với các chủ trang trại là người dân tộc thiểu số cùng nhau trao đổi, để các chủ trang trại tự xây dựng các ý tưởng, các mô hình, về những sự hiểu biết của họ liên quan đến trang trại và kinh tế trang trại theo năng lực, kinh nghiệm và cách làm của chính họ.

 Về phương pháp RRA, được thực hiện theo 2 lát cắt cơ bản: Lát cắt 1 đi theo chiều từ huyện Thuận Châu - Thị xã - Mai Sơn - Yên Châu - Mộc Châu; Lát cắt 2 đi theo chiều từ Mường La - Thị xã - Mai Sơn - Sông Mã.

 Tóm lại, để nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và của Sơn La nói riêng chúng ta phải xác định và sử dụng các phương pháp tiếp cận một cách chính xác và hiệu quả. Mỗi một phương pháp tiếp cận có mức độ ưu, nhược điểm khác nhau, khi sử dụng các phương pháp trên sẽ có tác dụng bổ khuyết cho nhau từ đó giúp việc nghiên cứu khoa học, toàn diện và chính xác.

 Trên đây là 6 phương pháp tiếp cận cụ thể mà chúng tôi nghiên cứu đề xuất để sử dụng trong nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La. Với mỗi một phương pháp tiếp cận, sẽ cần phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp nhằm làm sao có thể tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở một, hai hay nhiều góc độ, khía cạnh cụ thể trên cơ sở đó có thể đánh giá phân tích một cách toàn diện và sâu sắc về kinh tế trang trại của Sơn La nói chung và của hộ dân tộc thiểu số nói riêng, từ đó có các đề xuất hợp lý.

ThS. Nguyễn Cao Thịnh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,549


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs