Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên: Vấn đề đặt ra và giải pháp


Giờ học tiếng Việt của các em học sinh

Tây Nguyên nằm ở trung tâm miền núi Nam Đông Dương, địa thế hiểm yếu, có những hành lang tự nhiên thông với Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và duyên hải Trung bộ, nên trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Tây Nguyên giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh, là một địa bàn cơ động đặc biệt. Ngoài vị trí chiến lược về quốc phòng, Tây Nguyên còn là khu vực có nhiều tiềm năng đặc biệt về: rừng, khoáng sản, du lịch… Tuy nhiên, những lợi thế ấy chưa được khai thác tốt, điều này có nhiều nguyên nhân, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là chưa xây dựng và phát huy tốt nguồn nhân lực tại chỗ.

Năm 2004, dân số Tây Nguyên là 4.668.142 người, trong đó, nữ chiếm 49,5% (2.281.469 người).

Nguồn lao động là 2.514.000 người (chiếm 53,7%). Đặc trưng của dân số Tây nguyên là dân số trẻ, số liệu thống kê của 3 tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc và Lâm Đồng cho thấy: Số người trong nhóm tuổi từ 13 đến 30 chiếm 51,8% tổng số người từ 13 tuổi trở lên; số người trong độ tuổi lao động cao hơn trung bình cả nước: 53,7% (cả nước là 52,2%).

 Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực lại thấp hơn so với một số vùng khác trong cả nước cụ thể là số lao động có chuyên môn kỹ thuật, có qua đào tạo nghề, có bằng cấp ở Tây Nguyên chiếm khoảng 18% nguồn lao động, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỷ lệ tương ứng là 5,3%; số người có chuyên môn, trình độ từ công nhân kỹ thuật trở lên chiếm 8,5% số người trên 16 tuổi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là 3,6%; số người có trình độ chuyên môn từ cao đẳng, đại học trở lên vào khoảng 49.000 người (Kinh 92,4%, dân tộc thiểu số 7,6%). Lực lượng này chiếm chưa đến 2% nguồn lao động, nhưng lại phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại các thành phố, thị xã và làm việc chủ yếu trong khối hành chính sự nghiệp.

 Nhằm khắc phục tình hình thiếu hụt nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao và đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển Tây Nguyên trước mắt cũng như lâu dài, phải bắt nguồn từ sự nghiệp giáo dục, mà trước hết là từ Tiểu học. Trên tinh thần này, Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị chỉ rõ: Bảo đảm đủ trường, lớp và đội ngũ giáo viên cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng mục tiêu con em đồng bào được đi học với số lượng lớn ngày càng tốt hơn; bậc tiểu học được học cả chữ viết, tiếng nói của dân tộc mình. Xây dựng các trung tâm dạy nghề đào tạo ngắn hạn và các trường đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số. Trên tinh thần của Nghị quyết của Bộ Chính trị, trong định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm của Chính phủ về phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên cũng đã đề ra các nhiệm vụ, chính sách cụ thể về giáo dục-đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số với sự quan tâm đặc biệt. Nhờ đó, trong những năm vừa qua tình hình giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số có sự chuyển biến về qui mô trường lớp, số lượng và chất lượng học sinh, đội ngũ giáo viên năm học sau tăng hơn năm học trước.

 Năm học 2004-2005, toàn vùng có 2.286 trường, 46.334 lớp và 1.417.296 học sinh; trong đó có 482.966 học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, chiếm 34,07%. So với năm 2000-2001, số học sinh dân tộc thiểu số tăng 39%, trong đó học sinh Trung học cơ sở tăng cao nhất (56%). Đã có 99,2% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học và chống tái mù chữ, gần 32% số xã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Số trường, lớp đến năm học 2005-2006 tăng 39% so với năm học 2001-2002.

Cũng trong 5 năm toàn vùng đã xây dựng sửa chữa 6.800 phòng học vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hàng năm căn bản đáp ứng đủ sách giáo khoa cho học sinh con em các dân tộc. Các tỉnh đã đầu tư kiện toàn hệ thống trường, lớp nội trú, bán trú; mở thêm các trường Dân tộc nội trú và các trường, lớp bán trú đến cụm xã, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và Đại học để đào tạo cán bộ cho các dân tộc. Hiện nay, hệ thống trường Dân tộc nội trú ở Tây Nguyên đã hình thành đều khắp ở các tỉnh và huyện, với khoảng 8.300 học sinh đang theo học.

 Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ trên, các tỉnh Tây Nguyên cũng đã triển khai thực hiện Quyết định 168/2001/QĐ-TTg, ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ, nâng cấp trường Trung học Văn hoá nghệ thuật Đắc Lắc thành trường Cao đẳng nghệ thuật; xúc tiến thành lập trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Gia Lai; đầu tư nâng cấp trường Đào tạo nghề Thanh niên Dân tộc Đắc Lắc, trường Kỹ thuật Đà Lạt ở Lâm Đồng; nâng cấp, mở rộng 4 trường dạy nghề ở Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai; xây dựng trường dạy nghề Kon Tum…

 Trường Đại học Tây Nguyên và Đại học Đà Lạt đã trở thành trung tâm đào tạo lớn của toàn vùng. Đến năm 2005, Đại học Tây Nguyên đã đào tạo được 5.589 sinh viên tốt nghiệp ra trường (gồm 2.070 bác sĩ, 2.436 kỹ sư nông lâm, 833 cử nhân sư phạm, 250 cử nhân kinh tế), trong đó có 668 sinh viên là người các dân tộc thiểu số (chiếm 12%), đã bố trí công tác khoảng 98% số sinh viên dân tộc thiểu số ra trường. Năm học 2005-2006, Đại học Tây Nguyên có tổng số 5.253 sinh viên, trong đó có 721 sinh viên là người các dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 13,72%. Những việc làm và kết quả đó đã góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Tây Nguyên.

 Thành tích là đáng phấn khởi, nhưng nhìn chung nguồn nhân lực của Tây Nguyên nói chung, của các dân tộc thiểu số nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế.

 Thứ nhất, chất lượng dạy và học, nhất là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và các trường Dân tộc nội trú có nâng lên nhưng không đều. Hệ thống trường nội trú, bán trú dân tộc thiểu số có mở rộng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

 Thứ hai, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số càng lên bậc học trên càng thấp, khả năng không duy trì được sĩ số học sinh dân tộc thiểu số hàng năm vì phải đi học xa và nhiều lý do khác là rất lớn.

 Thứ ba, tỷ lệ sinh viên là người dân tộc thiểu số trong các trường Đại học, Cao đẳng và chuyên nghiệp còn ở mức khiêm tốn: Trường Đại học Tây Nguyên là 12%, Đại học Đà Lạt 4%, các trường Cao đẳng sư phạm 4,1%, trường Đào tạo nghề Thanh niên Dân tộc 21,6%.

 Thứ tư, việc cử tuyển theo chính sách còn nhiều khó khăn, bất cập; hàng năm các trường và các tỉnh đều không đạt chỉ tiêu do không đủ điều kiện theo chế độ cử tuyển, Gia Lai chỉ đạt 64,6%, Kon Tum đạt 80%, Đắc Lắc đạt 83,7%, Lâm Đồng đạt 69,9%. Một số dân tộc tại chỗ như Brâu, Rơ Măm chưa có người đủ tiêu chuẩn để được đào tạo theo chế độ cử tuyển.

 Những bất cập, hạn chế nêu trên phần nào đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của cả vùng Tây Nguyên nói chung, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng và do đó, việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, vấn đề phát huy nguồn lực con người nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Tây Nguyên là chưa thể thực hiện như mong muốn và chưa xứng tầm với khu vực có nhiều tiềm năng, nên Tây Nguyên vẫn là khu vực còn nghèo so với cả nước.

 Nguồn lực con người có phạm vi bao quát, đó là, tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất và tinh thần, đạo đức, phẩm chất, vị thế xã hội… tạo thành năng lực của con người và của cộng đồng người. Năng lực đó khi được sử dụng, phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

 Với phạm vi bao quát như vậy, muốn xây dựng và phát triển nguồn lực con người thuộc các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thì phải đặt nhiệm vụ nâng cao mặt bằng dân trí thành nhiệm vụ cấp bách, vì vậy, sự nghiệp giáo dục phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, những vấn đề đặt ra (có thể coi là mục tiêu) đối với sự nghiệp này trong những năm sắp đến phải là:

 + Phải đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở vào năm 2010, trên cơ sở phổ cập tiểu học bền vững. Không làm được điều này thì việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao (trí thức) đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong thời gian tới sẽ khó có thể thực hiện được. Thực hiện được nội dung trên thực chất là việc tạo nguồn để đào tạo đội ngũ trí thức tương lai.

 + Tìm ra khâu đột phá (đây là điều rất khó khăn) trong giáo dục-đào tạo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, bao gồm cả việc giải quyết sức ỳ về tâm lý đối với một bộ phận không nhỏ đồng bào.

Thực hiện yêu cầu này thực chất là việc phát huy nội lực, xoá bỏ sự ỷ lại.

 + Nghiên cứu các chính sách, chế độ đối với giáo viên miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo tâm lý an tâm đối với thầy cô giáo, có như vậy họ mới yên tâm công tác, sinh sống dù không phải là quê hương của họ.

 + Để đào tạo và phát huy nguồn nhân lực có trình độ cao đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, nên chăng nghiên cứu mở một số Trung tâm đào tạo bổ túc đa ngành, đa hệ có cả các cấp học, đào tạo nghề, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị… cho con em và cán bộ dân tộc, theo kiểu Trường học sinh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trên thực tế, mặt bằng dân trí của khu vực Tây Nguyên còn thấp so với một số vùng trong nước. Hiện tượng tái mù ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nguy cơ phát triển; trình độ dân trí thấp là một trở ngại lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập của đất nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Để khắc phục tình trạng này, Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương, khoá IX chỉ rõ: “Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hoá, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường Đại học và Cao đẳng, mở thêm trường dự bị Đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số”.

 Trên tinh thần đó và xuất phát từ thực tế nguồn nhân lực của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, trong thời gian tới, các tỉnh Tây Nguyên nên hướng trọng tâm vào những giải pháp sau:

 - Thứ nhất, tiến hành có chất lượng việc cải cách giáo dục.

 Để hiện thực hoá mục tiêu của sự nghiệp giáo dục-đào tạo các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2010 là nâng cao dân trí cho nhân dân và đào tạo thế hệ những con người mới làm chủ đất nước cần tiến hành có chất lượng đổi mới giáo dục-đào tạo, phải chú trọng cả 3 nội dung: Dạy chữ, dạy người và dạy nghề.

 Cải cách, đổi mới giáo dục đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cũng phải tính đến chính sách ưu tiên. ở đây cũng cần nói thêm rằng ưu tiên không phải là cho thêm điểm hay hạ thấp tiêu chuẩn, mà là tăng cường đầu tư để tạo ra những điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, về thời gian để con em đồng bào các dân tộc thiểu số có điều kiện theo học nhằm đạt tiêu chuẩn chung (trình độ tri thức) ở các cấp học, chẳng hạn đào tạo hệ cử nhân có thể con em dân tộc Kinh học 4 năm, thì con em đồng bào các dân tộc thiểu số có thể học đến 6 năm (hai năm dư ra đó chính là sự ưu tiên nhằm đạt mặt bằng về tri thức).

 - Thứ hai, tăng cường hệ thống trường Dân tộc nội trú.

 Bởi đây là môi trường cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số có điều kiện để học tập và do môi trường nên dễ có sự hoà nhập, tự tin, và từ đó sẽ ham thích học tập hơn; hệ thống trường dân tộc nội trú cũng chính là điều kiện để thực hiện chính sách ưu tiên trong quá trình đào tạo. Do vậy, việc tập trung phát triển hệ thống trường Dân tộc nội trú trong những năm qua được nhiều địa phương quan tâm; tuy nhiên, với số lượng 8.300 học sinh đang theo học như hiện nay là còn quá khiêm tốn so với yêu cầu nhiệm vụ của khu vực và thực tế của Tây Nguyên.

 Trong phương hướng sắp tới nhiều tỉnh cũng đã xác định việc phát triển và mở rộng hệ thống trường này, và thông qua việc đào tạo ở các trường Dân tộc nội trú lựa chọn học sinh có triển vọng cho đi đào tạo ở bậc cao hơn và coi đây là nguồn bổ sung cán bộ chủ yếu và quan trọng cho các tỉnh Tây Nguyên, đảm bảo trong 5-10 năm tới có một đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng cho vùng dân tộc thiểu số.

 Song song với việc mở rộng và phát triển hệ thống trường Dân tộc nội trú, cần hoàn thiện qui chế, xây dựng nội dung chương trình và hệ thống trường lớp nhằm tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về các lĩnh vực: Quản lý nhà nước, lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ dân tộc thiểu số, để đảm bảo trong thời gian tới toàn bộ đội ngũ cán bộ người dân tộc có trình độ tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Từng bước nâng cấp và hiện đại hoá trường dự bị đại học đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Trung, Tây Nguyên, đây là cơ sở quan trọng để con em đồng bào các dân tộc thiểu số có thể được đào tạo ở các cấp học cao hơn.

 Cùng với hệ thống trường Dân tộc nội trú, các tỉnh tiếp tục thực hiện chế độ, chính sách đầu tư, hỗ trợ khuyến khích con em đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng được tham gia học tập. Cho dù hoàn cảnh nào cũng không để con em đồng bào các dân tộc thất học, hoặc tình trạng tái mù phát triển.

 Thứ ba, xây dựng chiến lược khoa học cho Tây Nguyên.

 Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra sự tăng trưởng cao và bền vững cho nền kinh tế, cải thiện lĩnh vực xã hội, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng con người và xã hội Việt Nam văn minh, hiện đại, củng cố quốc phòng và an ninh, giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc… Để làm được điều đó, trên phạm vi cả nước cũng như ở Tây Nguyên cần phải cải tạo và trang bị lại kỹ thuật cho các ngành kinh tế-xã hội trên cơ sở công nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến…

 Việc xây dựng chiến lược phải xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tây Nguyên mà nhất là vùng.dân tộc thiểu số, không nên máy móc khi xây dựng chiến lược này. Việc xây dựng chiến lược khoa học với tư cách là động lực cần phải tập trung trí tuệ của các chuyên gia, những nhà quản lý để phân tích một cách khoa học những kết quả kinh tế-xã hội, xây dựng nguồn lực con người mà Tây Nguyên đạt được trong thời gian vừa qua, trên cơ sở đó nhận rõ yếu tố khoa học nào đã đi vào đời sống, để từ đó có xác định đúng về sự tác động của khoa học công nghệ đối với đời sống xã hội của vùng dân tộc thiểu số thời gian tới.

 - Thứ tư, sử dụng và đãi ngộ tốt số hiện có.

 Đào tạo là để tạo ra nguồn lực trí thức cho tương lai, xây dựng các chiến lược khoa học là để đội ngũ trí thức có định hướng và nội dung trong hoạt động của mình. Nhưng, như vậy vẫn chưa đủ nếu không đề ra chính sách sử dụng, bồi dưỡng và đãi ngộ thoả đáng đội ngũ trí thức hiện có ở Tây Nguyên.

 Ngoài những qui định chung của nhà nước đối với đội ngũ cán bộ khoa học, các tỉnh Tây Nguyên cũng cần nghiên cứu để nâng phụ cấp chuyên môn, phụ cấp khu vực… đối với những cán bộ tham gia hoạt động trực tiếp nghiên cứu khoa học công nghệ. Quy định mức thưởng cho các công trình nghiên cứu có giá trị và đạt hiệu quả lớn về kinh tế-xã hội, quy định chế độ ưu đãi đặc biệt đối với những nhà khoa học đầu đàn, chuyên gia kỹ thuật đầu ngành, công nhân bậc cao, các nhà khoa học đang đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển, có những đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng quê hương.

 Cùng với việc thực hiện tốt công tác cử tuyển hàng năm cho học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, thì phải coi trọng việc xây dựng kế hoạch tiếp nhận và bố trí, sử dụng hợp lý số học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường. Đây là một trong những giải pháp tối ưu để vừa đào tạo, vừa sử dụng có hiệu quả lâu dài đối với nguồn nhân lực chất lượng cao của người dân tộc thiểu số, và cũng là giải pháp để thực hiện quan điểm bình đẳng của Đảng ta đối với các dân tộc thiểu số hiện nay.

 Tây Nguyên có tiềm năng lớn, nhưng vẫn là khu vực chậm phát triển so với một số vùng của cả nước, việc tiến hành cách mạng khoa học và công nghệ thực sự là một thách thức lớn. Tuy nhiên, vẫn có điều kiện, vận hội để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu nắm bắt được những cơ hội tốt và có bước đi thích hợp, có chiến lược đúng, biết lựa chọn ưu tiên… thì Tây Nguyên có thể rút ngắn khoảng cách với các vùng trong cả nước. Để làm được điều ấy, trước hết Tây Nguyên phải có tiềm lực, năng lực nội sinh về khoa học công nghệ-nguồn nhân lực và cán bộ khoa học kỹ thuật cần được nhanh chóng đào tạo và sử dụng hợp lý, có như vậy mới hy vọng góp phần vào quá trình phát triển đối với Tây Nguyên trong tương lai.
 

TS. Nguyễn Văn Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,648


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs