Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Công tác Dân tộc phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc
Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc luôn kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bên nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai địch họa và dựng xây đất nước. Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng; bản sắc văn hoá từng dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hiến Việt Nam. Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta.

Bình đẳng và đoàn kết các dân tộc là đường lối chủ trương của Đảng ta đã được xác định ngay từ khi mới thành lập và trong suất quá trình lãnh đạo cách mạng. Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc với nội dung cơ bản là “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”. Với nội dung cơ bản đó, qua quá trình cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước.

 Tham mưu cho Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm của mọi cấp mọi ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó các cơ quan công tác dân tộc, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là những cơ quan nghiên cứu, đề xuất chính sách, xây dựng và tham gia hoạch định hệ thống chính sách dân tộc; phối hợp cùng các ngành, các cấp tổ chức triển khai thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, bao gồm các cơ quan công tác dân tộc trực thuộc Trung ương Đảng, trực thuộc Chính phủ và cơ quan công tác dân tộc của Quốc hội.

 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan công tác dân tộc đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Nha Dân tộc thiểu số với chức năng, nhiệm vụ “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”1.

 Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Nha Dân tộc thiểu số là mở Trường Đào tạo cán bộ dân tộc mang tên: Nùng Chí Cao, khoá học đầu tiên tại Hà Nội được Bác Hồ tới thăm. Lớp cán bộ dân tộc do trường đào tạo sau đó toả đi khắp cả nước tham gia công tác trên các lĩnh vực, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Nha Dân tộc thiểu số đã tổ chức thực hiện công tác vận động đồng bào các dân tộc nhận rõ âm mưu chia rẽ của kẻ thù, tập hợp nhân dân tham gia các tổ chức, đoàn thể, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bảo vệ cơ sở cách mạng, làm cho vùng dân tộc thực sự là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Chính phủ. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại PlâyCu (năm 1946) có đoạn: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu giây liên lạc, hai là vì có kẻ xui giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc, Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số để chăm sóc cho tất cả các đồng bào”2. Nghị định số 359 ngày 9/9/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đã xác định: “Nha Dân tộc thiểu số có nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trong toàn cõi Việt Nam, để củng cố, trên nguyên tắc, bình đẳng sự đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”. Cơ cấu bộ máy Nha Dân tộc thiểu số gồm có: “Một văn phòng phụ trách các việc công văn, hồ sơ vật liệu kế toán và viên chức. Một ban nghiên cứu có nhiệm vụ sưu tầm tài liệu và nghiên cứu mọi vấn đề chính trị, hành chính, văn hoá, xã hội, kinh tế và tài chính có quan hệ mật thiết đến các dân tộc thiểu số. Một ban tuyên truyền có nhiệm vụ củng cố tinh thần đoàn kết và tình thân ái giữa các dân tộc và chống mọi mưu mô chia rẽ. Ban tuyên truyền sẽ liên lạc với Nhà Thông tin Tuyên truyền toàn quốc để thực hiện chương trình tuyên truyền chung trong phạm vi dân tộc thiểu số. Một ban thanh tra có nhiệm vụ: Giám sát các công việc hành chính và chính trị ở các miền có dân tộc thiểu số; thảo luận với các cơ quan hành chính ở các miền đó để cùng giải quyết những vấn đề khó khăn, theo chính sách chung của Chính phủ; thảo luận với ban nghiên cứu và đề nghị lên Chính phủ những sự cải cách thích hợp về hành chính và chính trị. Ban thanh tra sẽ mật thiết liên lạc với Nha Thanh tra toàn quốc để thi hành nhiệm vụ được dễ dàng. Một ban kinh tế có nhiệm vụ giải quyết vấn đề tiếp tế cho các miền có dân tộc thiểu số và giúp đỡ một cách thiết thực các dân tộc thiểu số trong các công cuộc kiến thiết. Một ban tiếp đãi phụ trách việc đón tiếp các đồng bào thiểu số”. Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số là đồng chí Hoàng Văn Phùng.

 Nha Dân tộc thiểu số mới thành lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta.

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vùng dân tộc và miền núi trở thành căn cứ địa vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Năm 1947, thành lập Tổ Nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương, tiếp tục nhiệm vụ của Nha Dân tộc thiểu số với phương hướng hoạt động công tác dân tộc phù hợp với tình hình mới: “Mọi ngành công tác ở vùng đồng bào thiểu số phải có kế hoạch riêng, không thể chỉ đặt kế hoạch, chỉ thị chung như từ trước tới nay. Mỗi vùng thiểu số to trong nước cần lập một Ban Vận động đồng bào thiểu số để nghiên cứu kế hoạch cho sát, đặc biệt chú ý mở trường đào tạo cán bộ thiểu số riêng như khu V, khu XIV đã làm.

Phổ biến những kinh nghiệm quý báu về vấn đề vận động đồng bào thiểu số của khu V và khu XIV.

Chính phủ phải có một Quỹ đặc biệt chi về việc vận động và giúp đỡ đồng bào thiểu số”3. Tổ Nghiên cứu dân tộc do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách và chỉ đạo. Giai đoạn này, cơ quan công tác dân tộc trở thành một bộ phận quan trọng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, vừa là tổ chức tham mưu về dân tộc của Chính phủ kháng chiến; một mặt vận động đồng bào các dân tộc huy động sức người, sức của ủng hộ kháng chiến, mặt khác vận động các tộc trưởng, tù trưởng, phìa tạo... đi theo kháng chiến, đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất. Bộ phận nghiên cứu chính sách dân tộc đã bước đầu có những tổng kết hoạt động thực tiễn, giúp Trung ương có những điều chỉnh nội dung, phương pháp công tác dân tộc, đặc biệt là chuẩn bị cho việc xác định đường lối chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc tại Đại hội II (tháng 2/1951), Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ta hiện nay” (tháng 8/1952). Đây là những văn kiện đề cập đến công tác dân tộc được thực thi trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự nhằm phục vụ cao nhất cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều nội dung công tác dân tộc đã được thực hiện: Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc ở nhiều vùng trên phạm vi cả nước; Liên khu V tổ chức Hội nghị Đại biểu các dân tộc thiểu số với gần 300 đại biểu tham dự, tổng kết rút kinh nghiệm tổ chức kháng chiến, kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu Si Tơ (Kon Tum), kinh nghiệm từ vụ việc ở Sơn Hà (Quảng Ngãi), kinh nghiệm phá tan âm mưu của địch lập các ổ nhóm vũ trang ở vùng dân tộc... Trải qua 9 năm kháng chiến, công tác dân tộc đã góp phần to lớn vào sự nghiệp chung do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, cùng với nhân dân cả nước tiến hành kháng chiến thắng lợi, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

 Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, từ sau năm 1954 công tác dân tộc được tổ chức thực hiện với những nội dung và hình thức hoạt động mới phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. ở miền Nam, cơ quan công tác dân tộc được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục. Các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ vận động nhân dân các dân tộc đoàn kết chống lại âm mưu chia rẽ với chính sách “chia để trị” của địch: chống lại cái gọi là Mặt trận Fulrô đòi tự trị giả hiệu; chống lại việc dồn dân lập “ấp chiến lược”... Các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thành lập các Ban Khmer vận của tỉnh và một số huyện, đã tuyên truyền vận động bà con dấy lên phong trào chống Mỹ - ngụy rộng khắp, bằng các cuộc biểu tình, đồng khởi, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, hoạt động bí mật với công khai và bán công khai… đã tạo nên phong trào cách mạng trong đồng bào Khmer Nam Bộ, góp phần đáng kể vào phong trào cách mạng ở miền Nam. Các tỉnh duyên hải Trung Bộ đã vận động các dân tộc thiểu số xây dựng các căn cứ địa vững chắc, tổ chức đồng bào trực tiếp chiến đấu đánh địch như ở Bác ái, Phước Chiến… hình thành các buôn làng kiên cường, lập nhiều chiến công to lớn, nhiều thắng lợi vẻ vang, đoàn kết các dân tộc được tăng cường gắn bó trong đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước.

 Công tác dân tộc ở miền Bắc trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng chiến chống Mỹ cứu nước có những điều chỉnh về nội dung hoạt động và bộ máy tổ chức: Đầu năm 1955 “Thành lập Tiểu Ban Dân tộc ở Trung ương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương. Về mặt chính quyền, bộ máy dân tộc thiểu số trực thuộc với Thủ tướng Phủ và tạm thời đặt ở Ban Nội chính”. Từ đây cơ quan dân tộc có hai chức năng: Tham mưu cho Trung ương Đảng về vấn đề dân tộc và giúp Chính phủ phụ trách một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác dân tộc. Tiểu Ban Dân tộc Trung ương có các nhiệm vụ: “Nghiên cứu tình hình dân tộc và kiểm tra đôn đốc việc thực hành chính sách dân tộc ở các vùng dân tộc thiểu số, kể cả ở khu vực tự trị. Nghiên cứu giúp Trung ương đề ra chủ trương thực hiện chính sách dân tộc và phối hợp với các Bộ, các cơ quan ở cấp Trung ương trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ ở các vùng dân tộc thiểu số. Trực tiếp phụ trách thực hiện một số công tác như đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa các dân tộc”4. Ngày 1/2/1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 447/TTg, quy định cụ thể nhiệm vụ của Tiểu Ban Dân tộc, ngoài những nhiệm vụ nói trên, bổ sung thêm việc soạn và xuất bản tài liệu giới thiệu về các dân tộc. Tiểu Ban Dân tộc Trung ương do đồng chí Bùi San làm Trưởng Tiểu Ban.

 Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá I đã thông qua đề án thành lập Uỷ ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ và có quyền hạn trách nhiệm ngang Bộ “Uỷ ban Dân tộc có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng tương trợ và tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến bộ mau chóng về mọi mặt theo chủ nghĩa xã hội”5. Ngày 6/3/1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị.định số 102/TTg, quy định nhiệm vụ của Uỷ ban Dân tộc Chính phủ: “Nghiên cứu tình hình, đặc điểm các dân tộc thiểu số giúp Chính phủ vạch các chính sách dân tộc. Nghiên cứu giúp Chính phủ vạch kế hoạch xây dựng các khu vực tự trị dân tộc và thực hiện kế hoạch đó. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách dân tộc và giúp các Bộ trong việc nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện chính sách cụ thể phát triển kinh tế, văn hoá, củng cố vùng dân tộc thiểu số về mọi mặt. Chỉ đạo các Ban Dân tộc địa phương về mặt nghiệp vụ. Trực tiếp quản lý Trường Cán bộ dân tộc, tổ chức những đoàn đại biểu dân tộc đi tham quan, tiến hành những công tác khác có liên quan đến chính sách dân tộc do Chính phủ giao”. Nghị định 102/TTg còn quy định: “Uỷ ban Dân tộc có thể ra Thông tư giải thích đường lối, chính sách và chủ trương của Chính phủ đối với vùng dân tộc thiểu số và hướng dẫn các cấp hành chính thi hành đường lối, chính sách và các chủ trương đó. Các Uỷ ban hành chính các khu tự trị, các tỉnh miền núi và vùng có dân tộc thiểu số xen kẽ, có nhiệm vụ báo cáo về tình hình công tác thực hiện chính sách dân tộc cho Uỷ ban Dân tộc. Uỷ ban Dân tộc phối hợp và góp ý kiến với các Bộ trong việc nghiên cứu và thực hiện mọi chính sách với các vùng dân tộc thiểu số. Các Bộ có nhiệm vụ thông báo cho Uỷ ban Dân tộc các chính sách, chủ trương cụ thể và tình hình công tác của ngành mình ở các vùng dân tộc thiểu số, gửi bản sao các chỉ thị, thông tư và báo cáo về vấn đề đó cho Uỷ ban Dân tộc”.

 Về bộ máy tổ chức Uỷ ban Dân tộc có: Văn phòng, Vụ Nội chính, Vụ Nghiên cứu, Vụ Tuyên giáo, Trường Cán bộ dân tộc và một số đơn vị sự nghiệp do Uỷ ban Dân tộc thành lập sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Ngày 3/4/1959, Chính phủ ra Nghị định số 349/CP thành lập “Khu đào tạo cán bộ dân tộc miền Nam” trực thuộc Uỷ ban Dân tộc, có nhiệm vụ: “Bồi dưỡng văn hoá, chính trị cho cán bộ dân tộc miền Nam. Tổ chức cơ sở sản xuất tập thể về nông nghiệp, thủ công nghiệp để học tập, tạo điều kiện tự túc một phần đồ dùng, thực phẩm để nâng cao mức sinh hoạt. Tiếp thu, quản lý tất cả các cán bộ dân tộc miền Nam hiện đang công tác ở miền Bắc. Tổ chức an dưỡng cho những người già trong cán bộ dân tộc miền Nam. Nghiên cứu thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ dân tộc…”.

Thời kỳ 1959 - 1960, đồng chí Chu Văn Tấn là Trưởng Ban dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Chính phủ.

 Quốc hội khoá II (1960 - 1964) đã thành lập Uỷ ban Dân tộc, do đồng chí Chu Văn Tấn làm chủ nhiệm, đồng chí Ywang Mlô Duôn Du làm Phó Chủ nhiệm và 11 uỷ viên. Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội làm chức năng giám sát tình hình thực hiện chính sách dân tộc, công tác dân tộc theo quy định của Quốc hội.

 Đến năm 1961 , nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc Chính phủ được quy định cụ thể hơn tại Nghị định số 133/CP ngày 29/9/1961 của Chính phủ: “Uỷ ban Dân tộc là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số cùng nhân dân toàn quốc tiến nhanh về mọi mặt lên chủ nghĩa xã hội”. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc gồm: Văn phòng, Vụ Nội chính, Vụ Dân sinh, Vụ Tuyên giáo và một số đơn vị sự nghiệp như Trường Cán bộ dân tộc, Tạp chí dân tộc. Đến năm 1968 giải thể Vụ Nội chính và Vụ Dân sinh, thành lập các Vụ Địa phương và Vụ Tổng hợp theo Nghị định số 34/CP ngày 5/3/1968 của Hội đồng Chính phủ (các Vụ Địa phương gồm: Vụ I theo dõi và nghiên cứu tình hình dân tộc Tày, Nùng, Hoa và các dân tộc khác sinh sống ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hải Ninh, Vĩnh Phú, Bắc Giang. Vụ II theo dõi và nghiên cứu tình hình các dân tộc Thái, Mèo, Dao và các dân tộc khác sinh sống ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Hà Giang. Vụ III, theo dõi và nghiên cứu tình hình các dân tộc Mường, Vân Kiều và các dân tộc khác sinh sống ở các tỉnh Hoà Bình, Hà Đông, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh. Vụ IV, theo dõi và nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở miền Nam). Vụ Tổng hợp có nhiệm vụ “Tổng hợp tình hình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục và đào tạo cán bộ dân tộc. Nghiên cứu các vấn đề lớn về chính sách có quan hệ chung đến các dân tộc. Góp ý kiến với các ngành về chính sách cụ thể đối với vùng dân tộc”. Thời kỳ 1960 - 1976, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc là đồng chí Lê Quảng Ba.

 Thời kỳ 1964-1971, Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội khoá III gồm 15 đồng chí, do đồng chí Chu Văn Tấn làm Chủ nhiệm, đồng chí Ywang Mlô Duôn Du làm Phó Chủ nhiệm và 13 uỷ viên . Tiếp theo, Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội khoá IV (1971 -1975) đồng chí Chu Văn Tấn tiếp tục làm Chủ nhiệm Uỷ ban đến Quốc hội khoá V và khoá VI. Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Quốc hội khoá IV là đồng chí Nay Đer, khoá V là đồng chí Lâm Phái và khoá VI là các đồng chí Bùi San, Lò Văn Hạc, Sơn Thông.

 Công tác dân tộc trong thời kỳ này là phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước. Miền Bắc tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ đi lên chủ nghĩa xã hội, hậu thuẫn vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đồng bào các dân tộc ở miền Nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, trực tiếp đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, cùng với cả nước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết lên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,735


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs