Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Các dân tộc thiểu số Quảng Bình - nửa thế kỷ nhìn lại
 19/03/2005

Quảng Bình có 2 dân tộc thiểu số chủ yếu: Dân tộc Bru - Vân Kiều (gồm các tộc người: Vân Kiều, Khùa, Măng Coong, Trì); dân tộc Chứt (bao gồm: Sách, Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng), ngoài ra còn có bộ phận rất ít thuộc thành phần các dân tộc thiểu số khác như: Thổ, Thái, Mường, Pa Cô Lào.

Theo số liệu điều tra của Ban Dân tộc - Miền núi tỉnh Quảng Bình, tính đến tháng 3 năm 2003, các dân tộc thiểu số Quảng Bình có 3.093 hộ, 16.789 khẩu, chiếm 2,05% dân số cả tỉnh. Các dân tộc thiểu số Quảng Bình cư trú tương đối độc lập, có bộ phận xen cư với nhau và với người Kinh, phân bố tại 134 bản, tập trung chủ yếu ở các xã vùng cao biên giới. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, việc dừng chân của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng miền Tây Quảng Bình đã diễn ra như một quá trình phân bố dân cư tự nhiên.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng bào các dân tộc là cư dân sống bằng nông nghiệp nương rẫy, săn bắn hái lượm, bị chính quyền thực dân phong kiến bỏ rơi và dồn ép vào những hoàn cảnh khắc nghiệt, bị đẩy dần trở lại đời sống nguyên thuỷ, nông nghiệp mai một, dân số giảm sút có nguy cơ diệt vong.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng bào thực sự đã trở thành người làm chủ đất nước. Đồng bào các dân tộc Quảng Bình đón chào cách mạng bằng cả tấm lòng và niềm tin son sắt vào Đảng và Bác Hồ.

Sau cách mạng tháng Tám, dân tộc Bru - Vân Kiều suốt từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế đồng tâm lấy họ Hồ làm họ của mình. Cùng với đồng bào các dân tộc khác trên đất Quảng Bình, người Bru - Vân Kiều, người Chứt nghe theo lời kêu gọi của Bác tích cực tham gia bình dân học vụ để diệt giặc dốt; tích cực tăng gia sản xuất chống đói và tiết kiệm để xây dựng cuộc sống mới.

Trong kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất, miền Tây Quảng Bình là căn cứ địa của phong trào Cần Vương; trong kháng chiến chống Pháp lần thứ hai, nơi đây trở thành chiến khu, là căn cứ địa của chiến trường địch hậu.

Sau ngày hoà bình lập lại, các dân tộc thiểu số nói riêng và nhân dân Quảng Bình nói chung cùng với cả nước tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng nhau thực hiện khẩu hiệu “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Trong bộn bề công việc khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, theo lời Đảng gọi, cùng với nhân dân trong tỉnh, đồng bào các dân tộc thiểu số đã xác lập quan hệ sản xuất mới, dấy lên cao trào khai hoang, phục hoá, tích cực tăng gia sản xuất để thoát khỏi đói nghèo, dần định canh định cư, từng bước ổn định sản xuất và đời sống. Trên mặt trận đấu tranh giữ vững an ninh chính trị tuyến biên giới, đồng bào các dân tộc đã cùng với lực lượng công an biên phòng chủ động ngăn ngừa và đập tan âm mưu chống phá của bọn phản động, biệt kích.

Nhằm ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, vùng miền núi phía Tây Quảng Bình trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt, dữ dội suốt ngày đêm của không lực Hoa Kỳ. Cùng với hàng vạn thanh niên xung phong mở tuyến đường Trường Sơn, đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Bình đã hăng hái cùng bộ đội phát tuyến tìm hướng đường, đùm bọc cưu mang hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong tập kết trước lúc vào chiến trường; vận động hàng trăm con em lên đường làm nghĩa vụ quân sự... Lịch sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua, nhưng biết bao địa danh vùng miền Tây Quảng Bình từ Khe Tang, ngầm Bãi Dinh, Khe Ve, La Trọng, Đường 20, Đường 10, Cổng Trời Cha Lo còn mãi trong ký ức những cán bộ, chiến sĩ đã đi qua cuộc chiến tranh. Những kỷ niệm máu thịt nghĩa tình giữa bộ đội chiến sĩ với đồng bào các dân tộc Quảng Bình còn thắm mãi đến hôm nay.

Gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, kinh tế - xã hội vùng miền núi Quảng Bình đã có những bước tiến quan trọng. Thành tựu nổi bật là sản lượng lương thực tăng nhanh: từ năm 1990 đến nay, sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng 3,5% năm; bước đầu hình thành một số vùng cây công nghiệp như: cao su, thông nhựa, mía, lạc... Chăn nuôi cũng phát triển khá (đàn trâu bò tăng 4,9% năm). Kết cấu hạ tầng nông thôn vùng miền núi có bước phát triển: tính đến năm 2004 có 64/64 xã và thị trấn miền núi - vùng cao có đường ô tô đến trung tâm xã; hơn 70 công trình thuỷ lợi ở miền núi - dân tộc được đầu tư xây dựng và nâng cấp, đưa diện tích tưới chủ động lên hơn 600 ha, góp phần quan trọng vào sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; có 62/64 xã có điện lưới; 35/64 xã có điện thoại; 17/64 xã có bưu điện văn hoá; 100% số xã có trạm xá; 100% xã có trường tiểu học; 100% số xã có trường THCS; một số trung tâm cụm xã vùng cao được hình thành: có trường học, trạm xá, có chợ trung tâm khang trang phục vụ việc giao lưu trao đổi hàng hoá của đồng bào...

Bộ mặt kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của tỉnh cũng đã có nhiều đổi thay quan trọng: tại 134 bản, bộ mặt nông thôn mới dần dần được hình thành, đồng bào đã thực sự là người chủ của rừng núi, ruộng nương. Đây là bước nhảy vọt về sở hữu tư liệu sản xuất mà cách mạng đem lại. Quan hệ sản xuất mới được củng cố thêm một bước vững chắc. Sau hơn 30 năm thực hiện Quyết định 38/CP ngày 12/3/1968 của Chính phủ về cuộc vận động định canh định cư kết hợp với hợp tác hoá nông nghiệp, mặc dù gặp không ít khó khăn do chiến tranh và quá trình khắc phục những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, đến nay ở Quảng Bình có hơn 50% hộ nông dân đồng bào các dân tộc thiểu số về cơ bản đã thực hiện định canh định cư và đi dần vào ổn định.

Việc xác lập quan hệ sản xuất mới cùng với quá trình thay đổi nếp nghĩ, cách làm ăn của đồng bào đã góp phần quan trọng hướng họ tiếp cận dần với cộng đồng rộng lớn, làm quen với tiến bộ mới của khoa học - kỹ thuật trên lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi để nâng cao thu nhập và mức sống. Nếu như cách đây hơn 10 năm đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Bình quanh năm thiếu đói, thì nay họ chỉ thiếu đói ba đến bốn tháng vào những năm mất mùa; thu nhập bình quân đầu người năm 2000 tăng gấp đôi năm 1994; đã có nhiều hộ làm ăn giỏi, có thu nhập hàng năm trên 20 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi theo hướng nông - lâm nghiệp kết hợp; bắt đầu hình thành một số vùng chuyên canh các loại cây phù hợp như: đậu, lạc, hồ tiêu...; kết hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và phát triển chăn nuôi gia súc (trâu, bò). ở một số hộ gia đình đồng bào dân tộc Bru - Vân Kiều bước đầu tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại. Kết quả phát triển đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Quảng Bình hàng năm từ 1,5 đến 2%.

Hệ thống các trường PTDTNT từ tỉnh đến huyện được xây dựng khang trang. Một số chợ trung tâm cụm xã được xây dựng tại địa bàn thuần đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Trong 10 năm qua, đã đầu tư xây dựng 16 trạm phát lại truyền hình, 13 điểm xem truyền hình tập thể, 15 trạm truyền thanh, trang cấp 380 ti vi, 2.900 rađiô nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho đồng bào dân tộc miền núi. Đặc biệt ở một số bản vùng sâu, nơi cư trú của những cộng đồng người có nguy cơ suy giảm dân số như Rục, ARem, Mã Liềng, Mày... đã được xây dựng ăng ten parabôn, trang cấp ti vi, đầu video để đồng bào xem chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam. Báo chí theo định kỳ đã kịp thời đến với 28 xã vùng cao đặc biệt khó khăn trong tỉnh. Nhờ đó, mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số tăng nhanh, đời sống tinh thần ngày càng được cải thiện - góp phần quan trọng để các dân tộc tiếp cận nhanh nền văn hoá mới, nhiều tập tục lạc hậu dần được bãi bỏ, bản sắc văn hoá của từng dân tộc được bảo tồn và phát huy trong sinh hoạt cộng đồng.

Sự nghiệp giáo dục đào tạo có những tiến bộ đáng kể. Chỉ tính từ năm 1994 đến nay, số con em trong độ tuổi đến trường ngày càng cao: năm 1994 bình quân chung huy động được 23,9% số trẻ em là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến lớp, trong đó lứa tuổi cấp I chỉ huy động được 37,5%, cấp II huy động được 3,7%, còn trên 70% trong độ tuổi đi học chưa tới trường, số học sinh có trình độ văn hoá cấp II chỉ có 5 em, thì đến năm học 2003-2004 bình quân chung huy động số con em trong độ tuổi đi học đến trường ở các bậc học tăng gấp ba lần: Năm 1990 có 350 em, năm 1995 có 1.200 em, năm 2000 có 2.089 em thì đến năm 2004 đã vượt lên 3.428 em (trong đó tiểu học: 2.354, THCS: 909, THPT: 163 em).

Hệ thống trường PTDTNT của tỉnh và huyện hơn 10 năm qua đã lựa chọn được 1.000 học sinh là con em dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh về học tập tại trường từ lớp 5 đến lớp 12. Riêng tại trường PTDTNT tỉnh, tính từ khoá học 1991-1992 đến nay đã nuôi dạy được 50-6 học sinh, trong đó có 349 học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Số lượng học sinh là người dân tộc tốt nghiệp PTTH tại trường là 139 em (trên tổng số 272 học sinh tốt nghiệp), trong đó có 4 em thi đỗ vào đại học, 37 em được cử xét tuyển vào học tại các trường đại học khác nhau.

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm đặc biệt, góp phần quan trọng vào việc làm biến đổi cuộc sống xã hội trong các dân tộc thiểu số. Sau 20 năm đổi mới, hệ thống y tế từ huyện, xã đến thôn bản miền núi vùng cao hình thành và ngày càng được tăng cường cả về cơ sở vật chất lẫn đội ngũ thầy thuốc, bảo đảm khám và điều trị bệnh cho đồng bào các dân tộc. Cùng với việc khám và điều trị tại các trung tâm y tế, hoạt động của các chương trình quốc gia như phòng chống bướu cổ, sốt rét, tiêm chủng mở rộng, chương trình nước sạch sinh hoạt cho vùng cao... đã góp phần thu hẹp diện mắc bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét, bướu cổ; nạn “hữu sinh vô dưỡng”, nguy cơ suy giảm dân số ở một số tộc người như: Rục, ARem, Mày, Mã Liềng (thuộc dân tộc Chứt) được ngăn chặn và đẩy lùi.

Song song với những thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Bình đã từng bước trưởng thành về mặt chính trị. Từ thân phận của người nô lệ dưới chế độ thực dân phong kiến, nhờ cách mạng họ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Trong lao động, sản xuất và chiến đấu nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số đã vươn lên tự khẳng định mình, được nhân dân lựa chọn làm đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Chị Phạm Thị Lèng, người Chứt, là đại biểu Quốc hội khoá X; ông Hồ Phòm - dân tộc Bru - Vân Kiều được Nhà nước tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang; nhiều đồng chí nguyên là quan quân đội, hoặc trưởng thành sau chiến tranh hiện đang giữ những cương vị chủ chốt (Chủ tịch, Bí thư đảng uỷ) cấp xã; nhiều cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp xã được cử đi học lý luận chính trị cao - trung cấp và nghiệp vụ quản lý Nhà nước.

Chặng đường 50 năm đi qua so với lịch sử phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số Quảng Bình tuy chưa phải là dài, song đó là chặng đường phát triển đầy thăng trầm mà bản thân đồng bào các dân tộc thiểu số đã vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dẫu trong muôn vàn gian khó và trước những thử thách vô cùng khắc nghiệt, nhưng dù trong hoàn cảnh nào đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Bình vẫn một lòng tin sắt son vào Đảng, vào cách mạng.

TS. Nguyễn Kế Thân

Phó trưởng Ban DT-MN và TG tỉnh Quảng Bình

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,651,597


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs