Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/03/2005
Những vấn đề đặt ra đối với việc tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực đặc biệt khó khăn

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một truyền thống tốt đẹp và là bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một phạm trù chính trị mang ý nghĩa lịch sử, kinh tế, xã hội rộng lớn và sâu sắc. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng điều kiện nhất định, đại đoàn kết dân tộc đặt ra những nội dung nhiệm vụ, hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp.

Bước sang thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đặt ra cho chúng ta phải đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay, dưới tác động những mặt trái của kinh tế thị trường đang đặt ra không ít vấn đề mới phải quan tâm giải quyết đối với các khu vực còn đặc biệt khó khăn.

Thành tựu của gần 20 năm đổi mới đã làm thay da đổi thịt, làm biến đổi bộ mặt xã hội nước ta một cách cơ bản. Từ xã hội bao cấp, chia đều sự nghèo khó, thiếu thốn sang xã hội phồn vinh khá giả, đời sống được nâng cao nhờ sức sản xuất được giải phóng. Tuy nhiên, nhiều vùng đồng bào hiện vẫn đang còn rất khó khăn thiếu thốn, chưa thoát khỏi đói nghèo. Đây là quy luật phát triển không đều khó tránh khỏi trong quá trình phát triển của sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

Thực trạng là, những nhu cầu cuộc sống của đồng bào vùng đặc biệt khó khăn, chưa đảm bảo, nhu cầu ăn còn không ổn định, thời gian thiếu đói kéo dài trong năm. Mặc còn nhiều hạn chế, nhất là những vùng thời tiết khắc nghiệt. ở còn tạm bợ, nhà cửa đơn sơ, đồ dùng và tiện nghi sinh hoạt hầu như không có gì đáng giá. Sức khoẻ suy giảm, ốm đau không có điều kiện chạy chữa, đường tới bệnh viện xa xôi. Điều kiện sinh hoạt tinh thần không có, chủ yếu còn dựa vào những hoàn cảnh tự nhiên. Phong tục tập quán lạc hậu còn chi phối phần lớn đời sống đồng bào. Tôn giáo, tín ngưỡng chủ yếu đa thần, nhiều nơi đạo Tin lành, Thiên chúa, Phật giáo... xâm nhập và bị kẻ xấu lợi dụng. Trình độ dân trí thấp...

Về phương thức sản xuất, còn lạc hậu, chậm tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, chủ yếu còn dựa vào tự nhiên nên năng suất, chất lượng hiệu quả thấp. Tích luỹ hầu như còn chưa có. Kinh tế tự cấp tự túc, khả năng trao đổi sản phẩm chưa phổ biến, thị trường nhiều nơi chưa hình thành. Sản phẩm làm ra chưa bán được nên không có tiền để chi phí cho các khoản cần thiết trong sinh hoạt. Sản xuất chủ yếu là nông, lâm, ngư nghiệp lại thiếu vốn đầu tư, thiếu thị trường tiêu thụ.

Về tổ chức xã hội còn lỏng lẻo, chủ yếu dựa vào cộng đồng thôn xóm, bản ấp, dòng họ, theo phương thức cổ truyền. Tính khép kín còn nhiều, khả năng mở rộng giao tiếp, thông tin còn rất hạn chế. Hệ thống chính trị nhiều nơi thiếu vững chắc. Các tổ chức thành viên và cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở vừa thiếu vừa yếu.

Về điều kiện môi trường và kết cấu dân cư những vùng khó khăn nhìn chung đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng hải đảo, địa thế hiểm trở giao thông khó khăn. Thiên tai bão lũ, sạt núi... đe doạ và gây ra những thiệt hại nặng nề. Khả năng khắc phục và hồi phục sau khi có thiên tai cũng rất khó khăn.

Thấy rõ thực trạng đời sống, sinh hoạt của đồng bào vùng đặc biệt khó khăn để chúng ta có quan niệm đúng về đoàn kết, bình đẳng dân tộc, tránh thái độ giản đơn, chủ quan, duy ý chí để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc một cách cụ thể, thiết thực.

Chính sách của Đảng là phát huy sức mạnh nội tại của đồng bào, kết hợp với sự giúp đỡ từ bên ngoài để giúp đồng bào tự biết khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của mình một cách có hiệu quả để nâng cao đời sống. Đồng thời chúng ta cũng cần có chính sách đặc biệt, biện pháp đặc biệt để không ngừng phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống đồng bào. Chỉ có như vậy mới từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các dân tộc; giữa các vùng dân tộc để phát triển. Các dân tộc tiến gần tới sự bình đẳng mới có thể bảo đảm khối đoàn kết vững chắc. Đồng bào còn thấy mình sống có khoảng cách xa so với các dân tộc khác, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm lý so sánh, tự ti, mặc cảm. Tâm lý này bị kéo dài khi thực tế không được cải thiện sẽ dẫn đến thái độ tiêu cực, thiếu thiện chí hợp tác và nặng nề hơn là thái độ ly khai. Điều đó hoàn toàn trái với chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng. Cho nên khắc phục chênh lệch, thực hiện bình đẳng là cơ sở bảo đảm thực hiện đoàn kết dân tộc bền vững.

Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết từng con người cụ thể thuộc từng dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc ở nước ta. Do vậy phải chăm lo đến đời sống từng người dân trong cộng đồng các dân tộc ở vùng đặc biệt khó khăn.

Thực hiện chính sách dân tộc cũng như giải quyết các vấn đề cụ thể khác để chăm lo đời sống đồng bào vùng đặc biệt khó khăn là phải từ những cái cơ bản và đồng bộ để đi lên. Do đó chúng ta giúp đồng bào phải rất cụ thể, thiết thực để đồng bào được ăn no, mặc ấm, ở sạch sẽ vệ sinh, ổn định; ốm đau được chữa bệnh; trẻ em ở độ tuổi đi học phải được học hành; đường sá đi lại thuận tiện; văn hoá cộng đồng thực sự văn minh; quan hệ cộng đồng gắn bó giúp nhau trong cuộc sống hàng ngày... Chúng ta giúp đồng bào có đủ tư liệu sản xuất, vốn, kỹ thuật để đồng bào sống được bằng những kết quả lao động của chính mình. Như vậy chủ trương xoá đói, giảm nghèo phải có nội dung, mục tiêu, hình thức, biện pháp và bước đi thật cụ thể, thật rõ nét tới từng hộ gia đình, từng cụm dân cư. Chúng ta giúp đồng bào theo phương châm như thường nói: bằng chiếc cần câu cá chứ không phải giúp họ con cá. Nhưng vậy vẫn chưa đủ mà quan trọng hơn là giúp đồng bào cách dùng chiếc cần câu đó để tự câu được cá thường xuyên.

Những việc làm trên không những cụ thể mà còn phải kiên trì, liên tục giúp đồng bào thực sự thành thói quen, thành kỹ năng để tự đứng vững và phát triển. Có những việc gần như cầm tay, chỉ việc để đồng bào tiếp cận với cái mới, loại bỏ dần cách tư duy và làm ăn cũ theo lối mòn. Những việc như đã nêu trên chúng ta đã làm nhưng cái chưa được là chúng ta làm thiếu liên tục, thiếu đồng bộ, tách rời đối tượng tác động; theo suy nghĩ chủ quan duy ý chí, phiến diện, rời rạc, thoát ly thực tiễn. Đây là cách làm vừa tốn công sức, tiền của mà không có hiệu quả, lòng tin của nhân dân chưa được xác lập vững chắc, dẫn đến nghi ngờ, thiếu phấn khởi.

Nhận thức sẽ chỉ đạo hành động của con người. Nhưng nhận thức của con người lại là một quá trình từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông đến sâu, từ sai đến đúng... Do đó, công tác tuyên truyền vận động đồng bào không thể xem nhẹ song phải tuỳ thuộc vào đối tượng, tâm lý, trình độ nhận thức để chọn nội dung, hình thức biện pháp thích hợp.

Đây là cái cốt lõi làm cho đồng bào tin tưởng vào Đảng, vào Nhà nước, vào chính quyền địa phương. Đồng bào mất lòng tin, hoặc thiếu lòng tin thì khó có thể đoàn kết. Để có lòng tin phải làm cho đồng bào hiểu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng phải hiện thực hoá chính sách ấy để họ sờ, cầm, nắm, nhìn thấy được, và thực sự đồng bào được thụ hưởng kết quả chính sách ấy mang lại, giúp họ bớt khổ, bớt đói, sống văn minh, tiến bộ hơn. Làm cụ thể là bài học chúng ta đã từng làm và làm thành công trước đây theo cách cán bộ “ba cùng” với dân. Nay cán bộ xa dân, không hiểu dân, dân không hiểu cán bộ (vì nhiều lý do). Và sự không hiểu nhau như vậy làm cho dân và cán bộ cứ ngày một cách xa, nên khó tránh khỏi tình trạng lỏng lẻo của khối đại đoàn kết dân tộc.

Tuyên truyền, nâng cao ý thức tự giác của đồng bào, để từ đó phát huy tính tích cực của đồng bào. Tính tích cực thể hiện ở lòng tin vào cán bộ, tin vào Đảng, tin ở chính quyền. Đồng bào cảnh giác, biết phân biệt đâu là kẻ xấu kích động, chia rẽ, gây hiềm khích nội bộ nhân dân, nói xấu chế độ ta. Tính tích cực của đồng bào còn là chăm lo sản xuất, bảo vệ môi trường, từ bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, tiếp thu những nếp sống mới văn minh, tiến bộ.

Mọi vấn đề nêu trên có chuyển động hay không; chuyển động nhiều hay ít, tuỳ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở.

Hệ thống chính trị ở cơ sở phải được xây dựng, củng cố vững chắc thường xuyên, liên tục. ở những vùng đặc biệt khó khăn, cần khắc phục tình trạng thôn, bản, ấp không có đảng viên, không có tổ chức cơ sở Đảng, không có các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị. Phải nắm được thực chất cán bộ, khả năng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở. Tránh tình trạng thiếu các tổ chức của hệ thống chính trị nên không hoàn toàn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Việc đầu tư xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu sống còn bảo đảm khối đại đoàn kết dân tộc cũng như phát triển bền vững các lĩnh vực của đời sống xã hội vùng khó khăn.

Xây dựng củng cố hệ thống chính trị cơ sở là phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở địa phương; phải có chính sách thoả đáng với họ; phải có cơ chế để gắn cơ sở với các cấp trong hệ thống chính trị ở huyện, tỉnh và Trung ương... Điểm mấu chốt vẫn là dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc, lâu dài.

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhằm đoàn kết, giúp đỡ các dân tộc cùng phát triển; khắc phục dần sự chênh lệch thực hiện bình đẳng các dân tộc. Đây là mục tiêu chiến lược của Đảng mà chúng ta thường phấn đấu để đạt tới từ thấp đến cao.

Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu ấy, chúng ta cần có đường lối, kế hoạch, biện pháp chiến lược. Những chương trình lớn của Đảng và Nhà nước như chương trình Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây Bắc... là rất cần thiết, nhưng vì sao hiệu quả còn chưa cao, thiếu vững chắc? Kế hoạch chiến lược, biện pháp chiến lược sẽ đặt các vùng đặc biệt khó khăn những giải pháp đặc biệt trong kế hoạch, biện pháp tổng thể của đất nước. Đương nhiên và quan trọng là cần có sự chỉ đạo đặc biệt đối với những kế hoạch, biện pháp ấy. Thời gian đầu, cần có những đầu tư cơ bản nhưng mang tính chiến lược với vùng đặc biệt khó khăn như: xây dựng cơ sở hạ tầng, điều kiện sản xuất phát triển kinh tế, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nâng cao dân trí; xây dựng củng cố hệ thống chính trị; xoá đói giảm nghèo...

Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc nói chung là vấn đề lớn và khó, đối với vùng đồng bào đặc biệt khó khăn càng khó và càng cần thiết. Chúng ta phải làm và sẽ làm được, khi có những biện pháp đặc biệt và quyết tâm đặc biệt. Sự thống nhất, đồng bộ, hợp tác chặt chẽ của mọi cấp, mọi ngành là cơ sở khách quan cổ vũ đồng bào tự giác vượt qua mọi khó khăn, chủ động sáng tạo vươn lên tiến kịp sự đồng đều về kinh tế - xã hội củng cố khối đại đoàn kết dân tộc một cách vững chắc.

PGS,TS. Trần Quang Nhiếp

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,901,106


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs