Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
TỈNH QUẢNG TRỊ
 07/05/2009

I. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN

        1. Khái quát điều kiện tự nhiên

        Vị trí địa lý: Tỉnh Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng có toạ độ địa lý 17010' đến 16018' vĩ độ Bắc, 106032' đến 107024' kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội 598km. Phía Nam giáp huyện Phong Ðiền và A Lưới tỉnh Thừa Thiên- Huế; phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; từ Tây Bắc xuống phía Nam giáp 2 tỉnh Xavanakhẹt và Xaravan nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía Ðông được bao bọc bởi biển Ðông với bờ biển 75 km có đảo Cồn Cỏ rộng 4km2. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.745,5km2, chiếm 1,44% tổng diện tích tự nhiên của cả nước.

        Các đường chính trên địa bàn như đường quốc lộ 1A dài 75km, đường sắt Bắc - Nam dài 75km, đường quốc lộ 9 (Ðông Hà - Lao Bảo) dài 85km, đường 14A, 14B (đường mòn Hồ Chí Minh) dài gần 150km chạy xuyên dọc miền núi Quảng Trị. Hệ thống sông ngòi, thủy văn: Nằm ở sườn Ðông Trường Sơn, nơi có tổng lượng mưa hàng năm lớn trong cả nước nên Quảng Trị có mạng lưới thủy văn rất phát triển, đặc biệt là vùng núi. Nếu tính trung bình trên lãnh thổ của tỉnh thì mật độ sông ngòi dao động trong khoảng 0,8 - 1km/km2, ở vùng núi khoảng trên 1km/km2. Tuyệt đại bộ phận vùng núi và đồi cao của tỉnh có mật độ sông suối xếp vào loại dày đặc so với cả nước (thấp nhất cũng đạt 0,6km/km2, cao nhất lên tới 1,85km/km2). Một đặc trưng quan trọng khác là hầu hết sông ngòi ở Quảng Trị đều dốc, ngắn. Quảng Trị có 3 hệ thống sông chính: Sông Bến Hải (Vĩnh Linh), sông Thạch Hãn (Quảng Trị), sông Ô Lâu (Hải Lăng).

        Ðịa hình: Vùng miền núi chiếm 67% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh; vùng trung du chiếm 22% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, còn lại vùng đồng bằng chiếm 11% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Ðiểm cao nhất là Voi Mẹp cao 1.701 m, điểm thấp nhất chạy dọc dải đồng bằng có độ cao tuyệt đối từ 25 - 50m; độ cao trung bình nằm ở vùng trung du gò đồi có độ cao tuyệt đối từ 50 - 100m so với mặt nước biển.

        Khí hậu: Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và chịu ảnh hưởng lớn của biển Ðông. Mùa mưa diễn ra từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, có lượng mưa chiếm 75 - 85% tổng lượng mưa cả năm; các tháng có mưa lớn là tháng 9 và tháng 11; mùa nóng, ít mưa kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7. Nhìn chung tổng lượng mưa nằm ở các vùng trong tỉnh dao động trong khoảng 2.000 - 2.800mm, số ngày mưa trong năm dao động trong khoảng 140 ngày đến 180 ngày. Tổng số giờ nắng trung bình ở Quảng Trị dao động trong khoảng 1.800 - 1.900 giờ, vào loại cao so với các tỉnh phía Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất là 290C ở đồng bằng, 25 - 260C ở vùng núi và đồi cao; lạnh nhất vào các tháng 12 đến tháng 1 năm sau. Ðặc biệt các tháng từ tháng 5 đến đến tháng 8 hàng năm có gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng gây tác hại rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh.  

        2. Dân số - Dân tộc

        Dân số - Dân tộc: Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Quảng Trị có 575.000 người. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh là 293.000 người, chiếm 51% dân số. Trên địa bàn tỉnh có 3 dân tộc chính: Ðông nhất là dân tộc Kinh chiếm khoảng 91%, dân tộc Vân Kiều chiếm khoảng 7,3% còn lại là dân tộc Pa Kô và một số ít dân tộc khác chiếm 1,7%.

        Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 9 huyện, thị xã với số xã và thị trấn là 136; số học sinh phổ thông năm học 2001 - 2002 là 139.136 em; số giáo viên phổ thông là 4.965 người. Số thầy thuốc toàn tỉnh có 1.335 người, trong đó bác sĩ có 359 người, bình quân có 5,9 bác sỹ/1 vạn dân.  

        3. Tài nguyên thiên nhiên

        3.1. Tài nguyên đất

        Tỉnh Quảng Trị có tổng diện tích đất tự nhiên là 474.575 ha. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 68.929 ha, chiếm 14,52%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 149.813 ha, chiếm 31,56%; diện tích đất chuyên dùng là 18.256 ha, chiếm 3,84%; diện tích đất ở là 3.590 ha, chiếm 0,75%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 233.985 ha, chiếm 49,30%.

        Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 40.899 ha, chiếm 59,33%; diện tích đất trồng cây lâu năm là 18.038 ha, chiếm 26,16%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 1.937 ha, chiếm 2,81%.

        Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 194.148 ha; đất có mặt nước chưa sử dụng là 2.458 ha; đất bằng chưa sử dụng là 22.807 ha.

        3.2. Tài nguyên rừng

        Ðến năm 2002, toàn tỉnh có 152.661 ha rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó rừng tự nhiên 101.518 ha, rừng trồng 51.143 ha.

        Các khu bảo tồn thiên nhiên: Có rừng bảo tồn Rú Lịnh ở xã Vĩnh Hiền huyện Vĩnh Linh và rừng bảo tồn Tà Long ở xã Tà Long huyện ÐakRông.

        3.3. Tài nguyên biển

        Tỉnh Quảng Trị có bờ biển dài gần 75km chạy theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam. Dọc bờ biển có hai cửa sông lớn là Cửa Tùng và Cửa Việt.

        Theo những khảo sát gần đây thì thực vật phù du vùng biển ven bờ Quảng Trị thuộc vào loại giàu dinh dưỡng. Trung bình trong 1m3 nước biển có khoảng 5.104 tế bào sinh vật phù du, là nguồn thức ăn phong phú cho sự phát triển tôm cá tự nhiên và nuôi trồng ven bờ. Do giàu thức ăn nên khả năng khai thác, đánh bắt và nuôi trồng hải sản ở ven bờ biển Quảng Trị tương đối lớn. Năng suất đánh bắt tôm, cá tự nhiên đạt khoảng 152 - 255 kg/ha và sản lượng đánh bắt hàng năm đạt tới hàng chục ngàn tấn. Ở đây có nhiều loài cá nổi như: trích, nục, ngừ, bạc má...; các loại cá chìm như: trát, mòi, phèn... các loại hải sản như: Tôm hùm, tôm biển, mực ống, mực nang nhiều. Hàng nghìn ha mặt nước ở những nơi có rạn đá ngầm có thẻ nuôi tôm hùm xuất khẩu.

        3.4. Tài nguyên du lịch

        Quảng Trị có nhiều tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn, phân bố rộng khắp trên các địa bàn trong tỉnh. Quảng Trị có bờ biển dài với những cảnh quan và bãi cát đẹp như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy; các điểm du lịch đến các di tích lịch sử cách mạng như quần thể di tích đường Trường Sơn, tuyến du lịch vùng giới tuyến DMZ, nhà tù Lao Bảo, sân bay Tà Cơn, đồi Không Tên, cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, nhà thờ La Vang, cụm di tích thành cổ Quảng Trị, khu di tích đôi bờ Hiền Lương, địa đạo Vĩnh Mốc, nhà lưu niệm cố Tổng bí thư Lê Duẩn... Hiện tại phía Tây tỉnh Quảng Trị đang xây dựng "Ðường Hồ Chí Minh huyền thoại" trên chiều dài 46km đi qua các xã Húc, Ba Nang, Tà Long... của hai huyện Hướng Hóa và Ðak Rông.

        Các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn trên cho phép Quảng Trị đẩy mạnh phát triển ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trong giai đoạn tới.

        3.5. Tài nguyên khoáng sản

        Khoáng sản Quảng Trị tương đối phong phú nhưng có trữ lượng không lớn tập trung chủ yếu vào 5 nhóm chính sau:

            - Nhóm nguyên liệu: Than bùn có ở Gio Linh, Mỹ Chánh trữ lượmg ước khoảng 46.000 tấn, có khả năng khai thác để sản xuất phân vi sinh, phân tổng hợp.

            - Nhóm kim loại: Quặng sắt ở khe mỏ 2 thuộc xã Cam Mỹ huyện Cam Lộ, trữ lượng ước khoảng 1,17 triệu tấn. Titan: Phân bố dọc bờ biển xã Vĩnh Thái, Vĩnh Kim trên chiều dài 16,5 km, có trữ lượng ước khoảng 400.000 tấn.

            - Kim loại màu, quý hiếm: Có vàng gốc và vàng sa khoáng, phân bố rải rác ở Sa Lung, động Vàng Vàng, A Pay, Vĩnh Ô (Vĩnh Linh)... nhưng trữ lượng không lớn. Angtimoan: Có ở Tân Lâm nằm trong dăm kết với đá vôi, thạch anh.

            - Nhóm không kim loại: Nhóm này ở Quảng Trị phân bố rộng rãi, có trữ lượng tương đối lớn, bao gồm các nhóm phụ sau: Phụ nhóm nguyên liệu hóa chất và phân bón. Pyrit có ở Tà Lao, A Pay...; phụ nhóm nguyên liệu xây dựng:

            + Ðá vôi tập trung ở Cam Tuyền, Tân Lâm (Cam Lộ), Tà Rùng (Hướng Hóa)... có trữ lượng lớn được khai thác phục vụ cho sản xuất xi măng và đá xây dựng.

            + Sét gạch ngói rất phong phú phân bổ chủ yếu ở ruộng, tập trung ở Cam Hiếu (Cam Lộ), Triệu Thượng (Triệu Phong)... đang được sử dụng sản xuất gạch ngói đạt mức cao.

            + Ðá xây dựng: Ðá bazan, đá ong có rất nhiều, phục vụ đủ nhu cầu xây dựng. Ðá bazan ở Vĩnh Linh có thể sử dụng để xây dựng các công trình vĩnh cửu.

            + Ðá trang trí và lát mặt phân bố ở nam cầu Ðakrông với diện tích khoảng 20km2.

            + Phụ nhóm nguyên liệu sứ, gốm, thủy tinh: Cát thủy tinh có rất nhiều ở Bắc và Nam Cửa Việt. Nếu được tuyển đãi thì cát Cửa Việt có chất lượng cao đủ tiêu chuẩn để sản xuất trong nước và xuất khẩu.  

        4. Cơ sở hạ tầng có đến năm 2002

        4.1. Mạng lưới giao thông đường bộ: Toàn tỉnh hiện có 1.880,83 km đường bộ. Trong đó: đường do trung ương quản lý dài 263,71 km, chiếm 14,02%; đường do tỉnh quản lý dài 340,15km, chiếm 18,08%; đường do huyện quản lý dài 375,67km, chiếm 19,97% và đường do xã quản lý dài 901,30km, chiếm 47,92%. Hiện nay có 132/136 xã, phường đã có đường ô tô đến trung tâm xã, còn 4 xã chưa có đường ô tô vào đến trung tâm xã là A Vao, Ba Nang, Hải Phúc, Ba Lòng thuộc huyện Ðak Rông.

        4.2. Mạng lưới bưu chính viễn thông: Ðến nay đã có 100% huyện, thị xã được trang bị hệ thống viba số. Toàn tỉnh có 33 bưu cục, 77 điểm bưu điện văn hóa xã, 26 tổng đài với tổng dung lượng lắp đặt số máy cố định trên mạng đạt 24.818 máy, có 119/136 xã phường có điện thoại, còn có 17 xã chưa có điện thoại.

        4.3. Mạng điện lưới quốc gia: Tất cả các huyện, thị xã của tỉnh đều có điện lưới quốc gia, số xã có điện lưới 123/136 xã, trên 10 vạn hộ đã được cấp điện lưới quốc gia đạt 85% số hộ. Vùng nông thôn dùng cho sinh hoạt là chủ yếu, dịch vụ sản xuất còn ít.

        4.4. Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Về cấp nước sinh hoạt đã được đầu tư khá mạnh trong những năm gần đây. Số hộ dùng nước máy chiếm 8,3%. Số hộ được dùng nước giếng của toàn tỉnh là 75,9%. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ số hộ ở vùng nông thôn được dùng nước sạch cả tỉnh mới đạt mức 35,9%. Nguyên nhân thiếu nguồn nước ngọt, nhất là vào mùa khô.  

        5. Kinh tế - Xã hội năm 2002

        Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP đạt 7,53%. Trong đó nông - lâm - thủy sản tăng 4,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 22%; dịch vụ tăng 5,1%.

        Thu nhập bình quân đầu người đạt 216 USD/người.

        Cơ cấu phát triển các ngành kinh tế trong GDP:

            + Nông- lâm nghiệp:                 43,77%.

            + Công nghiệp - xây dựng:       17,13%.

            + Thương mại - dịch vụ:            39,1%.

        Tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh là 17%.

        Tỷ lệ huy động trẻ em đến tuổi đi học đạt 85%.

        - Sản phẩm chủ yếu:

            + Ngành công nghiệp: Xi măng, gạch xây dựng, ti tan.

            + Ngành nông nghiệp: Tiêu, cà phê, cao su, sản phẩm các loại cây lương thực.

            + Ngành thủy sản: Cá, tôm, mực.  

II. MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI

        1. Kết quả phân định 3 khu vực

        Huyện Hướng Hoá:

        - Khu vực I (MN): Xã Tân Long, thị trấn Lao Bảo; (VC): Xã Tân Hợp, Tân Liên, Tân Thành, thị trấn Khe Sanh.

        - Khu vực II (VC): Xã Hướng Tân, Tân Lập.

        - Khu vực III (VC): Xã Thuận, Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh, xã Thanh, A Xing, A Túc, A Dơi, Ba Tầng, Hướng Lộc, xã Húc, xã Xi.

        Huyện Dak Rông:

        - Khu vực II (MN): Xã Hướng Hiệp; (VC): Xã Mò ó, Dak Rông, Tà Rụt, A Ngo, A Bung, Ðông Sơn, Hồng Thuỷ, Triệu Nguyên, Ba Lòng.

        - Khu vực III (VC): Xã Ba Nang, Tà Long, Húc Nghi, A Vao, Hải Phúc.

        Huyện Cam Lộ:

        - Khu vực I (MN): Xã Cam Thành.

        - Khu vực II (MN): Xã Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Tuyền.

        Huyện Gio Linh:

        Khu vực II (MN): Xã Linh Thượng, Vĩnh Trường, Hải Thái.

        Huyện Vĩnh Linh:

        - Khu vực II (MN): Xã Vĩnh Khê, Vĩnh Hà, thị trấn Bến Quan.

        - Khu vực III (VC): Xã Vĩnh Ô.  

        2. Danh sách các xã thuộc Chương trình 135

        - Huyện Hướng Hoá: Xã Biên giới: Tân Thành, Tân Long, Hướng Tân; Xã ÐBKK: Thuận, Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh, Thanh, A Xing, A Túc, A Dơi, Ba Tầng, Hướng Lộc, Húc, Xi, Tân Lập.

        - Huyện DakRông: Xã Biên giới: A Ngo, A Bung; Xã ÐBKK: Ba Nang, Tà Long, Húc Nhì, A Vao, Hải Húc, Ðắk Rông, Tà Rụt, Mò Ó, Ba Lòng, Triệu Nguyên.

        - Huyện Vĩnh Linh: Xã ÐBKK: Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê.

        - Huyện Cam Lộ: Xã ÐBKK: Cam Tuyền.

        - Huyện Gio Linh: Xã ÐBKK: Linh Thượng, Gio Hải, Vĩnh Trường.  

        3. Một số vấn đề dân tộc và tôn giáo

        a. Tình hình dân tộc và tôn giáo: Tình hình dân tộc, an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội nhìn chung cơ bản ổn định. Tổng số hộ theo đạo Tin Lành và Thiên Chúa giáo có 365 hộ với 1.569 tín đồ, số hộ theo đạo Thiên Chúa giáo là 220 hộ với 906 tín đồ, tổng số hộ theo Phật giáo có 747 hộ với 2.635 tín đồ. Hiện nay ở huyện Hướng Hóa có 13/21 xã có dân theo các tổ chức đạo, huyện Ðak Rông có 6/13 xã có dân theo các tổ chức đạo. Tình hình hoạt động của các tôn giáo, đặc biệt là Tin lành và Thiên chúa giáo ở 2 huyện miền núi khá phức tạp, hiện tượng người theo đạo và không theo đạo đã xảy ra xích mích mất đoàn kết ở một số xã của 2 huyện Ðak Rông và Hướng Hóa. Tỉnh xác định đây là vùng nhạy cảm, dễ bị các giáo phái lợi dụng nên rất cảnh giác và có các biện pháp ngăn ngừa hữu hiệu.

        b. Tình hình di dân tự do: Không có gì phức tạp và nổi trội, cơ bản là ổn định. Tuy nhiên, tình hình xâm canh, xâm cư và di cư dịch cư qua biên giới giữa Việt Nam và Lào vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Trong 2 năm 2001 - 2002 đã có trên 70 hộ nhân dân Lào xâm cư Việt Nam và có trên 10 hộ là người Việt Nam sang bên Lào.

        c. Tình hình đời sống: Tỷ lệ nghèo đói tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi: Tỷ lệ nghèo ở huyện Ðak Rông là trên 50%, ở huyện Hướng Hóa trên 45% trong khi đó bình quân cả tỉnh vào khoảng 25%. Sự phân hóa giàu nghèo cơ bản ở Quảng Trị khá rõ nét, mức sống ở nông thôn miền núi, miền biển là khá thấp so với khu vực thị trấn và thị xã.  

III. TÓM TẮT QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2001 - 2010

        1. Quan điểm phát triển

        Huy động tối đa mọi nguồn lực trong tỉnh và sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài, dự báo xu thế phát triển, nắm bắt cơ hội, đón đầu thời cơ để chủ động phát triển kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững.

        Tận dụng lợi thế của hành lang kinh tế Ðông - Tây và khu thương mại Lao Bảo để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ.

        Từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu quả trên từng ngành, từng vùng lãnh thổ trong tỉnh.

        Tăng trưởng kinh tế gắn với đảm bảo công bằng xã hội. Phát huy yếu tố con người, đẩy mạnh phát triển giáo dục; đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, công nhân và lao động kỹ thuật. Quan tâm hỗ trợ phát triển đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người gắn với việc đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo.

        Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, giữ vững ổn định trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trên toàn tuyến biên giới.  

        2. Các mục tiêu cụ thể

        a. Về kinh tế

        - Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của cả nước, thời kỳ 2001 - 2005 phấn đấu đạt 8-9%; thời kỳ 2006 - 2010 đạt 9-9,5%.

        - GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt khoảng 307 - 322 USD, bằng khoảng 1,53 - 1,61 lần so với năm 2000 và năm 2010 đạt khoảng 533 - 586 USD, bằng khoảng 2,66 - 2,93 lần so với năm 2000.

        - Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; giảm tỷ trọng nông lâm, ngư nghiệp. Ðến năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 25 - 26%; ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 30 - 32%; ngành thương mại - dịch vụ chiếm 43 - 44%.

        - Tỷ lệ huy động vào ngân sách trên địa bàn so với GDP đến năm 2005 đạt khoảng 22 - 23% và đến năm 2010 đạt khoảng 25 - 26%; tỷ lệ tích luỹ đầu tư vào năm 2005 đạt khoảng 7 - 8% và đến năm 2010 là 11 - 12%.

        b. Về xã hội

        - Giảm nhịp độ tăng dân số, đến năm 2005, tỷ lệ tăng dân số giảm còn 1,5% và năm 2010 là 1,2%.

        - Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt khoảng 28 - 30%. Tỷ lệ thất nghiệp đến năm 2010 dưới 3%; tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85 - 90%.

        - Phấn đấu đến năm 2005 tất cả các xã có đường ô tô đến trung tâm xã và đến các bản làng. Ðến năm 2010 có 100% số xã có điện và điện thoại, trên 95% số hộ sử dụng điện.

        - Phấn đấu đến năm 2005 có 100% số xã có trạm y tế kiên cố; có 7 bác sỹ/1 vạn dân vào năm 2005 và 10 bác sỹ/1 vạn dân vào năm 2010.

        - Ðến năm 2010, tỷ lệ dân đô thị được dùng nước máy đạt khoảng 90%; số dân nông thôn được dùng nước sinh hoạt qua xử lý đạt 95%. Bảo đảm an ninh lương thực cho toàn tỉnh. Phủ sóng phát thanh, truyền hình trên toàn tỉnh và có phương tiện nghe nhìn tương đối rộng khắp.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,305,572


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs