Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Nắm vững cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện có hiệu quả thanh tra, kiểm tra công tác Dân tộc
Theo quy định của Hiến pháp đã được sửa đổi bổ sung (1992); theo Nghị quyết số 51/QH10 của Quốc hội khoá X và các văn bản pháp luật, những hoạt động nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bao gồm: giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra Nhà nước, Thanh tra của thủ trưởng cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh; giám sát của Viện Kiểm sát, hoạt động điều tra, xét xử của toà án; giám sát của các đoàn thể quần chúng, các Ban thanh tra nhân dân và giám sát của nhân dân. Tuy các hoạt động kể trên có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng tất cả đều chung một mục tiêu là đảm bảo việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Để nhận thức về công tác thanh tra, cần xem xét có tính hệ thống tổ chức và hoạt động của nhà nước về các cơ chế giám sát, điều tra, kiểm tra…

 Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”; như thế có thể hiểu kiểm tra là xem xét những việc diễn ra có đúng với quy tắc đã xác lập hoặc các mệnh lệnh về quản lý đã ban ra hay không. Về mặt quản lý chung, kiểm tra hướng tới việc xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, cùng khả năng thực hiện trong thực tế.

 Theo nghĩa hẹp, kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc nào đó của đối tượng quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước.

 Trong quản lý nhà nước, khi nói đến kiểm tra, chúng ta cần phải nói đến kiểm tra nhà nước (hay kiểm tra mang tính nhà nước). Đó là việc kiểm tra chấp hành kỷ luật nhà nước, kỷ luật lao động, pháp chế và chấp hành của các viên chức nhà nước, của những người có chức vụ, thành viên của các tổ chức xã hội và của công dân.

 Kiểm tra vốn là chức năng của người quản lý, không phân biệt họ làm việc ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và bộ máy quản lý nhà nước nói riêng, ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô và yêu cầu kiểm tra có khác nhau.

 Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức nhất định nhằm làm rõ hoạt động của tổ chức ấy có phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; Kiểm tra kết quả cuối cùng để đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra.

 Trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước hiện nay hoạt động kiểm tra có: Kiểm tra của đảng, là hoạt động của tổ chức đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, điều lệ; Kiểm tra của tổ chức chính trị xã hội; Kiểm tra của các cơ quan quản lí nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; Kiểm tra của người phụ trách trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; Kiểm tra của quần chúng đối với cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước; kiểm tra của Thanh tra nhân dân.

 Như vậy, kiểm tra là một hoạt động thường xuyên. Do tính chất này mà chúng ta không thể nói là đã có hệ thống kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có những người lãnh đạo, tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt động kiểm tra. Điều quan trọng là thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếp kiểm tra lẫn nhau trong nội bộ tổ chức và giữa các đơn vị phối hợp.

 Cùng với công tác kiểm tra là thanh tra. Thanh tra có nghĩa là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.

 Theo cuốn “Thuật ngữ pháp lý phổ thông” của Nhà xuất bản Pháp lý (1986), thanh tra được xem là một biện pháp (một phương pháp) của kiểm tra. Nhiệm vụ của thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm. Trong các văn bản (văn kiện chính trị, pháp luật) thường sử dụng thuật ngữ kép “thanh tra, kiểm tra”, để coi đó là một khâu của chu trình quản lý, một chức năng thiết yếu của quản lý. Tổ chức thanh tra chuyên nghiệp là tai mắt của cơ quan lãnh đạo các cấp nó có trách nhiệm giữ gìn dân chủ, kỷ luật nhà nước, bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ… Thanh tra có nhiệm vụ theo dõi, xem xét sự chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ. Thanh tra là một khâu công tác quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý của bộ máy quản lý của nhà nước. Nó có mục đích giúp cơ quan lãnh đạo vừa kiểm tra đúng đắn của bản thân sự lãnh đạo của mình vừa kiểm tra việc chấp hành của cơ quan thuộc thẩm quyền nhằm tìm ra những biện pháp chỉ đạo và quản lý tốt nhất, bảo đảm cho những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành một cách đầy đủ và có hiệu lực.

 Thanh tra là một khâu không thể thiếu được trong công tác lãnh đạo.

Đường lối chủ trương của Đảng được Nhà nước cụ thể hoá bằng các chính sách và bằng việc tổ chức thực hiện, đồng thời phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chủ trương, chính sách đã đề ra.

 Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.

 Giữa thanh tra và kiểm tra có sự khác nhau; về chủ thể thanh tra, trước hết là các tổ chức Thanh tra nhà nước, Thanh tra nhà nước chuyên ngành, thanh tra của thủ trưởng cơ quan, đơn vị và thủ trưởng cơ quan nhà nước; còn chủ thể kiểm tra đa dạng hơn bao gồm tất cả các thủ trưởng cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội… có quyền quyết định và những người đi kiểm tra.

 Về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động của thanh tra hẹp hơn, nó chỉ xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc chấp hành chính sách, pháp luật, thực hiện chức trách nhiệm vụ của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật còn phạm vi hoạt động của kiểm tra rộng hơn cả về nội dung và đối tượng.

 Về nghiệp vụ và thủ tục: hoạt động thanh tra phải tuân theo trình tự thủ tục mà pháp luật quy định và đòi hỏi phải có nghiệp vụ thanh tra.

 Tuy nhiên, giữa các hoạt động này cũng không có một ranh giới rõ ràng. Mỗi loại hình nêu trên có mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và phương thức thực hiện khác nhau. Nhưng giữa các hoạt động đó có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, cùng có mục tiêu chung là tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

 Từ những nhận thức trên, cho thấy trong hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra là một khâu công tác, là một dạng của hoạt động quản lý nhà nước. Trong bộ máy quản lý nhà nước, thanh tra là một chức năng thiết yếu: “thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” (Trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị công tác thanh tra 1961). Do đó, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước.

 Quản lý nhà nước được hiểu là chủ thể quản lý, nhân danh quyền lực nhà nước tác động đến đối tượng quản lý; thanh tra là công cụ của cơ quan quản lý nhà nước và như vậy tổ chức thanh tra nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước để xem xét, đánh giá việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ... của đối tượng thanh tra.

 Thanh tra là xem xét tại chỗ việc làm và con người của đối tượng quản lý trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ; để đánh giá đúng, sai (ưu, khuyết điểm) đưa ra biện pháp để phát huy nhân tích cực (việc đúng, người tốt); phòng ngừa xử lý vi phạm. Để thực hiện được thanh tra cần phải khách quan và có tính độc lập trong hoạt động.

 Nghiên cứu, tiếp thu một số cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiểm tra nêu trên, giúp cho thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước, thủ trưởng cơ quan Thanh tra công tác Dân tộc các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao để chỉ đạo phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm đúng quy định của Luật Thanh tra và Nghị định số 10/2006/NĐ-CP ngày 17/01/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra công tác dân tộc và Thông tư số 04/2007/TT-UBDT ngày 26/6/2007 của Uỷ ban Dân tộc về hướng dẫn một số nội dung về thanh tra công tác dân tộc.

 Mấy năm gần đây, ngành lâm nghiệp đã tiến hành giao đất, giao rừng gắn với bảo vệ và phát triển rừng trên quy mô lớn. Đối tượng được giao đất, giao rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp ngày càng đa dạng, phong phú và diện tích rừng, đất rừng đã được điều chỉnh theo hướng: giao tăng dần cho các đối tượng hộ gia đình, đơn vị tập thể; giảm dần cho các lâm trường quốc doanh.

 Trước đây, nền kinh tế cả nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, trong lâm nghiệp các lâm trường được Nhà nước giao quản lý, sử dụng phần lớn diện tích rừng và đất rừng. Ngày nay chuyển dần sang nền sản xuất lâm nghiệp hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài lực lượng các lâm trường thì các tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản trở thành đối tượng chính được Nhà nước giao đất, giao rừng sử dụng ổn định, lâu dài. Việc làm này đã trở thành phổ biến, diễn ra khá sôi động. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2006, cả nước có khoảng hơn 12,6 triệu ha rừng và đất rừng. Trong đó, các lâm trường (DNNN) được giao hơn 2,8 triệu ha, chiếm hơn 22%: các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hơn 3,18 triệu ha, chiếm 25%; khu vực hộ gia đình và kinh tế tập thể (tổ hợp tác, HTX nông - lâm nghiệp) hơn 3,41 triệu ha, chiếm 27%; Uỷ ban nhân dân các xã hơn 2,8 triệu ha, chiếm 22% (trong đó, cộng đồng dân cư thôn, bản có khoảng 668 nghìn ha); các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang hơn 262 nghìn ha và các xí nghiệp liên doanh hơn 66 nghìn ha.

 Diện tích rừng và đất rừng giao cho các DNNN đã giảm từ hơn 3,5 triệu ha, năm 1999, xuống còn 2,8 triệu ha hiện nay. Cũng tại các thời điểm này diện tích giao hộ gia đình và tập thể (gọi tắt là giao cho nhân dân) đã tăng lên đáng kể, từ hai triệu ha, tăng lên hơn 3,41 triệu ha, tăng 1,41 triệu ha, bằng 50% diện tích rừng, đất rừng của DNNN. Nhiều địa phương thực hiện xã hội hóa việc giao đất, giao rừng khá tốt. Đến nay, tỉnh Thanh Hóa có gần 100%, Lạng Sơn 80%, các tỉnh còn lại đạt khoảng từ 60 đến 75% diện tích rừng và đất rừng đã giao cho các đối tượng quản lý. Vùng nào, địa phương nào cũng xuất hiện những mô hình vườn rừng, trang trại rừng của DNNN, doanh nghiệp tư nhân hay của cộng đồng dân cư thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên và trồng rừng mới. Có thể xem đây là sự thay đổi căn bản về nhận thức và cách làm từ chỗ: phát triển lâm nghiệp dựa hẳn vào quốc doanh, nay chuyển sang lâm nghiệp xã hội dựa trên cơ sở, mở rộng các đối tượng được giao đất, giao rừng. Phương châm Nhà nước và nhân dân cùng đầu tư bảo vệ rừng, trồng rừng, nhân dân là lực lượng chủ yếu đã khích lệ động viên phong trào, nay đã trở thành hiện thực trong phát triển lâm nghiệp. Nhờ đó, cả nước bước đầu đã ngăn chặn tình trạng suy thoái diện tích rừng, chuyển sang giai đoạn phục hồi, phát triển. Theo Cục Kiểm lâm, trên phạm vi toàn quốc, diện tích rừng trồng mới ngày càng tăng.

Mức tăng bình quân từ 50 nghìn ha thời kỳ 1995 - 2000, tăng lên 200 nghìn ha giai đoạn 2001-2006, tăng gấp bốn lần và diện tích rừng tự nhiên, bảo vệ khoanh nuôi phục hồi nhanh, đã nâng tổng diện tích đất có rừng từ 9,5 triệu ha năm 1995, lên 11,5 triệu ha năm 2000 và hơn 12,6 triệu ha hiện nay. Độ che phủ rừng tăng là 28,1% lên 37,5%. Môi trường sinh thái và năng lực phòng hộ, tính đa dạng sinh học của rừng dần được cải thiện. Xã hội hóa giao đất, giao rừng đã tạo điều kiện cho nông dân miền núi có việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện mức sống. Điều tra của Cục Lâm nghiệp về thu nhập của nông thôn miền núi cho thấy: tại tỉnh Bắc Kạn: thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp - chủ yếu thu từ bảo vệ rừng và trồng rừng của nhóm hộ thoát nghèo chiếm 32,8%, nhóm hộ khá 16,8%; tại Tây Nguyên: nhóm hộ nghèo là 17%, nhóm hộ khá gần 40% so với tổng mức thu nhập/năm. Xã hội hóa giao đất, giao rừng cũng góp phần tích cực bảo đảm trật tự an ninh chính trị - xã hội, tạo đà phát triển nền kinh tế đất nước trong những năm vừa qua.

 Tuy nhiên, quá trình thực hiện giao đất, giao rừng thời gian qua đã bộc lộ những yếu kém, bất cập và nảy sinh nhiều vấn đề, hạn chế đến hiệu quả sử dụng rừng và đất rừng được giao.

 Tiến độ giao đất, giao rừng còn rất chậm. Đến cuối tháng 3/2006, các địa phương mới chỉ giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất rừng cho khoảng 17% tổng số hộ và gần 30% diện tích đất lâm nghiệp cần giao. Phần lớn diện tích rừng và đất rừng giao cho nhân dân bảo vệ và trồng rừng là rừng tự nhiên nghèo kiệt và đất trống, đồi núi trọc, nông dân chưa có điều kiện hưởng lợi từ rừng. Trong khi đó, phần lớn diện tích rừng tự nhiên có trữ lượng tài nguyên rừng từ trung bình trở lên vẫn do các Ban Quản lý rừng, DNNN quản lý. Nhiều địa phương quy hoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quá lớn với mục đích hưởng vốn hỗ trợ đầu tư của Nhà nước. Diện tích rừng và đất rừng hiện nay giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã lên tới 2,8 triệu ha; thực tế ở cấp xã thiếu lực lượng và phương tiện để bảo vệ giữ rừng, trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã trong nhiệm vụ giữ gìn rừng chưa rõ ràng, rất lúng túng, bất cập trong công tác quản lý. Những hạn chế nêu trên dẫn đến hậu quả: nhân dân vùng rừng thiếu đất sản xuất tiến độ và kết quả trồng rừng mới trong Dự án trồng mới năm triệu ha rừng còn quá ít. Giao đất, giao rừng theo kiểu bình quân/hộ đã tạo được một số mô hình trang trại rừng, vườn rừng sản xuất nông - lâm kết hợp, nhưng lại tạo ra manh mún, phân tán, gây khó khăn cho sản xuất lâm nghiệp hàng hóa. Cơ chế khoán rừng và đất rừng chậm được hoàn thiện. ở một số địa phương, nhất là các tỉnh vùng Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, rừng vẫn tiếp tục bị xâm hại.

 Quản lý ngành còn bất cập chưa đủ mạnh. Nhiều lĩnh vực còn chồng chéo. Hiện nay, việc giao đất rừng là do ngành tài nguyên và môi trường đảm nhiệm, chủ yếu làm các thủ tục khi giao đất, chưa gắn giao đất với giao rừng. Trong nông nghiệp, sau khi giao đất cho nông dân sử dụng ổn định, lâu dài, lập tức được đưa ngay vào sản xuất. Ngược lại, với diện tích rừng và đất rừng sau khi giao cho nhân dân mới chỉ là bước đầu. Họ rất lúng túng trong việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi và thiếu kiến thức về kỹ thuật để đưa hết diện tích đất rừng vào sản xuất. Nhưng công tác khuyến lâm còn rất yếu cả về tổ chức và nội dung hoạt động, chưa phải là chỗ dựa cho người trồng rừng.

 Để khắc phục những yếu kém tồn tại nêu trên, trong thời gian tới các cấp, các ngành có liên quan từ trung ương đến địa phương phải coi giao đất giao rừng gắn với bảo vệ, phát triển rừng là nội dung cốt lõi của xã hội hóa lâm nghiệp. Do vậy, khi tiến hành giao đất, giao rừng cần làm rõ đối tượng các loại rừng bao gồm rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất và rừng tự nhiên, loại rừng nào có thể giao, cho thuê hoặc khoán đến các thành phần kinh tế, gắn với các chế tài rõ ràng, minh bạch ngay từ đầu. Điều chỉnh phương thức giao, ưu tiên hạn mức diện tích rừng và đất rừng giao cho các doanh nghiệp, hộ gia đình có năng lực sản xuất lâm nghiệp hàng hóa. Các địa phương nhanh chóng hoàn chỉnh việc rà soát đánh giá thực trạng việc sử dụng đất lâm nghiệp đã giao đến từng đối tượng, gắn với quy hoạch lại ba loại rừng, sớm thu hồi những diện tích rừng, đất rừng bị bao chiếm bất hợp pháp không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để giao lại cho các đối tượng có năng lực sản xuất. Đời sống nông dân miền núi còn rất nghèo. Địa bàn rừng khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng mới thường tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Do vậy, chính sách hỗ trợ đầu tư bảo vệ rừng, trồng rừng sớm được sửa đổi theo hướng người trực tiếp bảo vệ rừng, trồng rừng được Nhà nước hỗ trợ, bù đắp những đóng góp của họ trong việc giữ gìn môi trường sinh thái, tạo nguồn nước và phòng hộ, v.v. Trước mắt, hỗ trợ về giống cây ngắn ngày để họ có điều kiện sản xuất nông - lâm kết hợp lấy ngắn nuôi dài. Những diện tích rừng, đất rừng sau khi giao nhưng chưa có khả năng sinh lợi, Nhà nước hỗ trợ về lương thực, vốn với mức phù hợp để họ có thể sinh kế sống chung với rừng. Các cơ quan, khoa học lâm nghiệp sớm xác định và đưa ra tập đoàn giống cây lâm nghiệp phù hợp từng vùng, từng địa phương, đem lại hiệu quả kinh tế có sức cạnh tranh với các loại cây nông nghiệp khác, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, giảm sức ép phá rừng làm nương rẫy.

 Hoàn thiện nội dung giao đất, giao rừng gắn với bảo vệ, làm giàu rừng theo hướng bền vững là góp phần tích cực thực hiện chiến lược bảo vệ, phát triển rừng đồng thời cũng là nội dung phát triển nông thôn mới trên địa bàn miền núi nước ta.

Nguyễn Hữu Giảng
Chánh Thanh tra - UBDT

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,957


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs