Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về dân tộc và công tác dân tộc

 05/06/2009

Ngày 29/6, tại Hà Nội, lần đầu Ủy ban Dân tộc (UBDT) tổ chức giao lưu trực tuyến trên mạng In- tơ-nét giữa lãnh đạo Ủy ban với đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) và nhân dân cả nước. Đồng chí Kror Phước, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã trả lời nhiều câu hỏi, tập trung một số lĩnh vực quan trọng như: Chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về dân tộc và công tác dân tộc. Các chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội ở vùng DTTS như Chương trình 135, 134, chính sách trợ giá trợ cước, định canh định cư, nông lâm nghiệp; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo và sử dụng cán bộ người DTTS... Báo Dân tộc và Phát triển trân trọng chọn đăng một số câu hỏi và trả lời trực tuyến trên mạng In-tơ-nét của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Kror Phước.

Đ/c Rơ Nai Thuy ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng hỏi:

Xin Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc cho biết quyền bình đẳng về chính trị của công dân các DTTS được quy định như thế nào?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Quyền bình đẳng về chính trị đối với các DTTS luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm.

Trước hết, quyền bình đẳng về chính trị thể hiện trong việc đồng bào các dân tộc được quyền tham chính của mình thông qua thực thi dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Công dân Việt Nam thuộc các dân tộc ít người có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân như mọi công dân khác theo quy định tại Điều 53 và 54 của Hiến pháp: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”.

Hiện nay có nhiều đại biểu của dân tộc ít người giữ các vị trí lãnh đạo, kể cả cấp cao nhất trong bộ máy lãnh đạo của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. Số đại biểu Quốc hội khoá XI, nhiệm kỳ 2002-2007, là người dân tộc ít người có 86/498, Khóa XII là 87/493 người (chiếm 17,27% và 17, 65% số đại biểu Quốc hội, cao hơn tỷ lệ 13,8 % dân số là người dân tộc ít người). Tỷ lệ đại biểu dân tộc ít người tại Hội đồng nhân dân các cấp cũng khá cao: 14% ở cấp tỉnh, thành phố; 17% cấp huyện và 19% cấp xã, phường. Tại các địa phương miền núi, tỷ lệ đó cao hơn nhiều. Số lượng cán bộ là người dân tộc ít người ở các địa phương không ngừng tăng: chiếm trên 31% cán bộ xã ở các tỉnh Tây Nguyên.

Đ/c Phạm Văn Độ ở Thanh Hóa hỏi:

Như thế nào là quản lý Nhà nước về công tác dân tộc? Nội dung của quản lý Nhà nước về công tác dân tộc là gì?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước :

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý nhà nước; Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quản lý một lĩnh vực đặc thù. Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào các DTTS, để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Ngày 07/12/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1277 phê duyệt Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006–2010”. Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm: Xây dựng, tổ chức thực hiện một số chương trình, đề án, dự án; Xây dựng, hoàn thiện chính sách dân tộc; Thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc; Huy động các nguồn vốn và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng DTTS; Tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia thực hiện chính sách dân tộc; Nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc; Xây dựng hệ thống thông tin về tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc;

Đ/c Nguyễn Văn Lộc, tỉnh Thanh Hóa hỏi:

Các thôn (bản) đặc biệt khó khăn ở các xã khu vực II, đến bao giờ được đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn II?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Hiện nay cả nước có gần 3000 thôn bản đặc biệt khó khăn (ĐBKK) ở xã Khu vực II. Tháng 5/2007, UBDT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư thôn bản ĐBKK từ năm 2007. Chính phủ đã chỉ đạo đối với thôn bản ĐBKK tập trung đầu tư trong thời gian ngắn trong 2 năm hoàn thành dứt điểm, song do một số địa phương có số lượng thôn bản ĐBKK rất lớn nên việc đầu tư thôn bản ĐBKK sẽ theo lộ trình, trước mắt năm 2007 tập trung ưu tiên những thôn bản ĐBKK nhất, sau đó đầu tư cuốn chiếu luân chuyển đưa những thôn bản ĐBKK khác vào diện đầu tư của Chương trình. Trong thời gian sắp tới, khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, UBDT và các Bộ Kế hoạch Đầu tư, Tài chính sẽ giao bổ sung kế hoạch vốn thực hiện đầu tư thôn bản ĐBKK.

Đ/c Quàng Thị Viên, tỉnh Sơn La hỏi:

Xuất phát từ nhu cầu thực tế của Đề án 134 ở địa phương về hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo còn rất lớn nhưng theo chủ trương của Chính phủ đến năm 2008 là kết thúc Chương trình. Vậy UBDT cho biết khi kết thúc Chương trình 134 còn có chính sách gì mới để giải quyết tiếp về vấn đề nhà ở cho đồng bào DTTS nghèo, cận nghèo không?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Về việc hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS, cần thiết phải có sự nỗ lực của các địa phương trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lồng ghép các nguồn lực trên địa bàn. Sau năm 2008, trên cơ sở kết quả thực hiện Quyết định 134 của các địa phương, UBDT sẽ nghiên cứu đề xuất chính sách đối với đồng bào DTTS nghèo, cận nghèo. Phát huy nội lực của đồng bào cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng, phấn đấu hết năm 2008 giải quyết dứt điểm nhà ở cho đồng bào DTTS nghèo.

Đ/c Mùa A Trừ, tỉnh Lai Châu hỏi:

Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác định canh định cư đối với vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tại thời điểm hiện nay UBDT vẫn chưa có hướng dẫn về cơ chế quản lý, thực hiện và phân cấp rõ ràng. Tại sao?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Sau khi có Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBDT đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành kiên quan xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách ĐCĐC.

Ngày 08/6/2007, Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã ký ban hành Thông tư số 03/2007/TT-UB hướng dẫn thực hiện chính sách ĐCĐC đối với đồng bào DTTS giai đoạn 2007-2010; trong đó đã quy định cụ thể về đối tượng, nội dung chính sách, cơ chế và phân cấp quản lý thực hiện chính sách. Đề nghị UBND các tỉnh khẩn trương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các quy định tại Thông tư số 03/2007/TT-UB, đảm bảo thực hiện chính sách đúng mục tiêu, đối tượng, có hiệu quả.

Đ/c Thào A Giàng, tỉnh Sơn La hỏi:

Qua thực hiện chính sách cho thấy, ở một số địa bàn ĐBKK, mặc dù đã được trợ giá giống cây trồng, nhưng do quá nghèo, đồng bào vẫn không có tiền để mua giống được trợ giá. Có thể thực hiện cấp không thu tiền đối với một số giống cây trồng được không?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước :

Chính sách trợ giá trợ cước quy định tại Nghị định 20 và Nghị định 02 của của Chính phủ nhằm mục đích bảo đảm cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa thuộc miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS mua một số mặt hàng thiết yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất theo giá tương đương hoặc thấp hơn so với các địa bàn khác.

Bán một số nông sản theo giá tương đương với các địa bàn khác, để khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá, góp phần ổn định đời sống và tạo động lực chuyển dịch cơ cấu sản xuất của địa phương. Chính vì vậy việc thực hiện cấp không thu tiền đối với một số giống cây trồng từ nguồn TGTC của Trung ương giao là không đúng quy định của Nghị định. Có thể căn cứ mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và kinh phí cân đối trong dự toán ngân sách địa phương để quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Đ/c ALăng Tía, tỉnh Quảng Nam hỏi:

Chính sách bảo vệ và trồng rừng mới được quy định từ lâu, nay không còn phù hợp. Xin ông cho biết: cần có giải pháp gì để góp phần thực hiện tốt dự án về trồng mới 5 triệu ha rừng.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Để phù hợp với thực tế thiện nay về bảo vệ diện tích rừng, ngày 12/9/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010, trong đó đã tăng định mức phân bổ cho Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cụ thể: nâng suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, đặc dụng từ 4 triệu đồng/ha lên 5 triệu đồng/ha, khoán bảo vệ rừng từ 50.000 đồng/ha/năm lên 100.000 đồng/ha/năm, xây dựng cơ sở hạ tầng 5% lên 10%.

Để thực hiện tốt Dự án 5 triệu ha rừng, Bộ NN&PTNT và UBDT đang tập trung chỉ đạo thực hiện một số giải pháp trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số như: Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền nâng cao nhận thức trong xã hội về việc bảo vệ phát triển rừng; Chỉ đạo rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng (hoàn thành trong năm 2006); Đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng (hoàn thành trước năm 2010); Tiếp tục nghiên cứu đề xuất điều chỉnh các chính sách, khuyến khích hộ gia đình, cộng đồng và các thành phần kinh tế tham gia trồng và bảo vệ rừng, nhất là đối với đồng bào các DTTS; Chỉ đạo đẩy mạnh việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất và cung ứng giống tốt, hướng dẫn kỹ thuật trồng, cải tạo, tu bổ và làm giàu rừng cho nông dân; Tăng cường công tác bảo vệ, phòng chống phá rừng, cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng; Chấn chỉnh và tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về lâm nghiệp tạo thành hệ thống nhất trí từ Trung ương tới xã có đủ thẩm quyền và năng lực.

Đ/c Châu Kim Sêng, tỉnh An Giang hỏi:

Tại sao số lượng cử tuyển của An Giang hằng năm thấp, lại phải cử tuyển ở những vùng theo qui định mà những vùng này không đủ chỉ tiêu. Trong khi số lượng người dân tộc ở những nơi khác người dân tộc rất đông lại không được cử tuyển?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Theo Thông tư liên bộ 04, đối tượng cử tuyển là con em người DTTS và người Kinh (không quá 20%) có hộ khẩu thường trú và sinh sống từ 5 năm trở lên ở các xã ĐBKK (thuộc xã Chương trình 135) mới là đối tượng cử tuyển.

Nghị định số 134/2006/NĐ-CP về việc quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Nghị định này sẽ mở rộng vùng tuyển sinh và đối tượng tuyển sinh cho phù hợp với tình hình phát triển giáo dục vùng DTTS hiện nay (Trong đó có học sinh là người DTTS của tỉnh An Giang).

Đ/c Bàn Văn Hùng, tỉnh Cao Bằng hỏi

Hiện nay tiếng nói, chữ viết của các DTTS đang ngày bị mai một. Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS Bộ trưởng có những giải pháp gì để bảo tồn giá trị văn hóa của các DTTS ?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Có thể nói, chữ viết của các DTTS đó là bản sắc về văn hoá của dân tộc.

Thứ nhất: Hiến pháp và Luật giáo dục của ta đều ghi rõ: Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện giúp đỡ các dân tộc có tiếng nói, chữ viết. Hiện nay về chữ viết, ta đang thực hiện bảo lưu, bảo tồn qua tổ chức dạy song ngữ ở các trường phổ thông. Thứ 2: hầu hết các dân tộc đã có chữ viết (trên 20 dân tộc) và phổ biến ở cấp tiểu học, một số dân tộc nâng cao lên chương trình song ngữ ở cả THCS, ví dụ: dân tộc Khmer. Thứ 3: trên hệ thống thông tin các tỉnh đang đã thực hiện chương trình phát hình báo ảnh, báo viết bằng chữ dân tộc, thông qua đài truyền hình, truyền thanh, hầu hết các tỉnh có đông DTTS đều sử dụng chữ viết để phổ biến.

Thứ 4: Đảng và Nhà nước khuyến khích bắt buộc cán bộ người Kinh đến công tác vùng dân tộc phải học tiếng, chữ DTTS, với dân tộc chưa có chữ viết dùng chữ la tinh để phiên âm (đây nằm trong chính sách cán bộ) về văn hoá nghệ thuật, khuyến khích các nghệ nhân, nhà văn sử dụng tiếng dân tộc của mình để viết tác phẩm văn học, đó chính là tạo điều kiện để phát huy bản sắc văn hoá các DTTS, trong đó có chữ viết nói riêng.

Đ/c Triệu Thị Chiều, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang hỏi:

Nhiều ý kiến cho rằng, khi gia nhập WTO, muốn đồng bào DTTS hòa nhập thì chính công tác dân tộc cũng phải nâng lên một bước tiến mới. Xin Bộ trưởng cho biết, UBDT có định hướng và giải pháp gì để giúp đồng bào vùng sâu, vùng xa hội nhập chung cùng cả nước khi gia nhập WTO?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Ksor Phước:

Với chức năng là cơ quan tham mưu giúp Trung ương Đảng và Chính phủ về hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách vùng dân tộc và miền núi, UBDT sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành đoàn thể và các địa phương thực hiện tốt các việc sau:

- Tập trung sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước giúp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vùng đặc biệt khó khăn, vùng miền núi để đáp ứng tốt hơn cho sản xuất và đời sống của người dân trong vùng, nhất là về giao thông, đất sản xuất, nước cho sản xuất và sinh hoạt, điện, trường, trạm xá và thông tin.

- Đặc biệt chú trọng việc hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào DTTS thay đổi tập quán sản xuất cũ, đầu tư khoa học kỹ thuật vào các quá trình của sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất lao động.

- Đẩy mạnh hơn nữa cả chiều rộng và chiều sâu phát triển về giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho vùng DTTS và miền núi. Đối tượng quan tâm nhất là thanh, thiếu niên.

- Làm chuyển biến tích cực, đúng quan điểm của Đảng về đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ vùng DTTS, các cấp, các ngành, đặc biệt là cán bộ ở vùng DTTS.

- Chăm lo xây dựng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây rối trật tự xã hội của các cá nhân và tổ chức phản cách mạng ở trong và ngoài nước.


Văn Phong và nhóm PV thời sự-chính trị thự hiện

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Dư âm từ buổi đối thoại trực tuyến của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Ksor Phước (06/2009)
  •  
  • Ủy ban Dân tộc Sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2007 (06/2009)
  •  
  • Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Gặp mặt thương binh, gia đình liệt sĩ và người có thành tích “Đền ơn đáp nghĩa” (06/2009)
  •  
  • Phú Yên thu hồi 1(24 tỷ đồng và 198,2ha đất sản xuất (06/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,903,720


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs