Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Cơ hội của đồng bào Dân tộc thiểu số Tại khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia
Khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Capuchia gồm 10 tỉnh, trong đó Việt Nam có 4 tỉnh là Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai và Kon Tum; Lào có 3 tỉnh là Attopư, Se Kong và Saravan; Campuchia có 3 tỉnh là Mondulkiri, Rattanakiri và Stung Treng.

Tại khu vực Tam giác phát triển có 6 cửa khẩu quốc tế là Bờ Y (Kon Tum), Lệ Thanh (Gia Lai), Buprăng (Đắc Nông), Phu Cưa (Attopư), An Đông Pếch (Rattanakiri) và Ô Reng (Mondulkiri); với các cặp cửa khẩu là Bờ Y - Phu Cưa, Lệ Thanh - An Đông Pếch và Buprăng - Ô Reng.

Thực hiện tuyên bố Viêng Chăn ký ngày 28 tháng 11 năm 2004 về “Xây dựng và giới thiệu những kế hoạch và cơ chế đặc biệt cho Tam giác phát triển để tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, nhằm thúc đẩy sự liên kết giữa các địa phương và các ngành kinh doanh trong khu vực Tam giác phát triển để tăng cường luồng đầu tư và thương mại nội bộ và từ bên ngoài vào khu vực Tam giác”, trong hai ngày 17-18 tháng 5 năm 2007 tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã diễn ra Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban Điều phối chung khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia do Chủ tịch Uỷ ban Điều phối (cấp Bộ trưởng) của ba nước đồng chủ trì. Hội nghị đã đạt được thoả thuận với 9 nội dung quan trọng về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại và kích thích đầu tư, thương mại trong khu vực Tam giác phát triển giữa ba nước. Trong những nội dung quan trọng đó có một số nội dung sẽ là cơ hội rất tốt để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống mọi mặt của người dân trong khu vực tam giác phát triển nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Những nội dung tạo ra cơ hội đó là:

Thứ nhất, về thủ tục qua lại, cư trú: Công dân của ba nước thuộc mọi thành phần kinh tế và tổ chức có tư cách pháp nhân mang hộ chiếu phổ thông đi qua cửa khẩu để thực hiện các hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư và các dự án hợp tác hai nước được miễn thị thực nhập cảnh, xuất cảnh của bên kia với thời hạn cư trú phù hợp với thời hạn hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư và thực hiện các dự án, nhưng không quá 36 tháng. Công dân ba nước cư trú ở các tỉnh giáp biên giới của mỗi nước trong khu vực Tam giác phát triển được cấp Giấy thông hành biên giới để qua lại giữa các tỉnh trong khu vực Tam giác phát triển. Giấy thông hành biên giới có thời hạn 1 năm, có thể được gia hạn thời gian không quá 6 tháng và chỉ có giá trị sử dụng trong phạm vi các tỉnh trong khu vực Tam giác phát triển, nếu đi các tỉnh ngoài khu vực Tam giác phát triển của mỗi nước, phải được Công an cấp tỉnh của nước sở tại cho phép.

Thứ hai, về trao đổi hàng hoá biên giới: Tại các cặp cửa khẩu được phép làm thủ tục xuất, nhập cảnh hàng hoá chính ngạch theo Hợp đồng thương mại là các cửa khẩu chính và cửa khẩu quốc tế giữa ba nước.

Đối với hàng hoá nông sản do cư dân các tỉnh khu vực Tam giác phát triển sản xuất của nước này mang sang nước kia trao đổi dưới hình thức hàng đổi hàng được miễn thuế nhập khẩu không hạn chế về số lượng và mặt hàng.

Các hình thức mua bán đơn thuần (không trao đổi hàng hoá) của cư dân biên giới được miễn thuế nhập khẩu nếu giá trị hàng hoá đó không quá 2.000.000 VND hoặc 1.250.000 LAK hoặc 500.000 KHR/1 người /1 ngày (tương đương 125 USD). Tiền mặt bằng tiền nội tệ đồng (VND), kip (LAK) và riel (KHR) cho phép được xuất nhập cảnh qua biên giới cửa khẩu giữa ba nước tương đương với 500 USD.

Thứ ba, về chính sách thuế: Thực hiện giảm 50% thuế suất, thuế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ mỗi nước Việt Nam, Lào và Campuchia vào các nước đối tác Việt Nam, Lào và Campuchia trong khu vực Tam giác phát triển và thống nhất mở rộng chủng loại hàng hoá thuộc diện hưởng thuế suất, thuế nhập khẩu 0%, trình Chính phủ các bên xem xét và quyết định.

Các mặt hàng gạo, lá thuốc lá, phụ kiện xe máy được hưởng ưu đãi miễn thuế 0% phải chịu hạn ngạch nhất định hàng năm.

Giá tính thuế nhập khẩu là giá mua hàng hoá nhập khẩu dựa trên hợp đồng mua bán hàng hoá. Giá mua hàng hoá nhập khẩu bao gồm cả phí bảo hiểm và chi phí vận tải, nếu không có chứng từ hợp lệ về hai loại phí này sẽ tính 15% giá trị trong hợp đồng và phí bảo hiểm được tính 0,32% giá trị ghi trong hợp đồng.

Tỷ trọng hàm lượng xuất xứ hàng hoá của mỗi nước đối với các mặt hàng công nghiệp không thấp hơn 30%.

Miễn thuế nhập khẩu các vật tư, thiết bị, phương tiện, nguyên, nhiên, vật liệu dùng để xây dựng cơ sở vật chất ban đầu dự án đầu tư vào mỗi nước.

Giảm mức giá thuế gian hàng triển lãm cho nhau và chỉ thu thuế đối với các hàng hoá đã được bán hoặc sử dụng với mục đích khác tại nước trưng bày triển lãm theo quy định của nước sở tại. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh của Việt Nam có hàng hoá xuất khẩu sang Lào và Campuchia nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn nơi có cơ sở sản xuất, kinh doanh đặt trụ sở cho phép thu tiền hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi tiền mặt được áp dụng thuế suất, thuế giá trị gia tăng 0%, khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào và được xét hoàn lại thuế nhập khẩu.

Thứ tư, về phí và lệ phí: Mức thu phí cấp giấy phép lao động và phí lưu trú cho người nước này làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở nước đối tác (Việt Nam và Lào sang làm việc tại Campuchia, cũng như Việt Nam và Campuchia sang làm việc tại Lào) trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam, Lào và Campuchia được áp dụng thống nhất 80 USD/người/năm. Thuế thu nhập đối với lao động ở nước này làm việc ở nước kia trong khu vực Tam giác phát triển áp dụng thống nhất 10% ở mức thu nhập tương đương trên 300 USD/tháng.

Hiện nay, 4 tỉnh của Việt Nam trong khu vực Tam giác phát triển có 724.699 hộ với số nhân khẩu là 3.576.128 người (theo báo cáo của Ban Dân tộc các tỉnh Tây Nguyên) trong đó dân tộc thiểu số là 255.239 hộ, chiếm 35,22% và 1.371.906 người, chiếm 38,36%. Đồng bào dân tộc thiểu số ở đây chiếm tỷ lệ khá cao, sống chủ yếu bằng nghề nông với tập quán canh tác lạc hậu, nông sản hàng hoá chưa có nhiều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với bình quân chung toàn vùng Tây Nguyên; điều kiện giao lưu kinh tế và tiếp cận thị trường còn rất hạn chế.

Khi các cơ sở chính sách nêu trên được Thủ tướng Chính phủ ba nước quyết định, cư dân trong khu vực Tam giác phát triển nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hoá nông, lâm sản; thâm nhập thị trường hàng hoá, thị trường lao động; giao lưu và phát triển kinh tế, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo một cách bền vững.

Để đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tam giác phát triển, tận dụng được cơ hội nhanh chóng hội nhập và vượt qua được những khó khăn, thách thức khi mặt bằng dân trí và trình độ sản xuất còn thấp, các cấp, các ngành cần có biện pháp giúp đỡ đồng bào một cách có hiệu quả, thiết thực về kỹ năng lao động sản xuất; khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; vốn và cách sử dụng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh; kiến thức về thị trường, quản lí kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế doanh nghiệp nhỏ.

TS. Lê Kim Khôi

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,284,969


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs