Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Công nghệ hồ treo Giải quyết “cơn khát” trên cao nguyên đá

 07/06/2007

Giải pháp đơn giản mà đề tài “Điều tra nghiên cứu các nguồn nước cacxtơ khu vực Nà Phạ (xã Mậu Duệ - huyện Yên Minh), lựa chọn, thiết kế mô hình khai thác” của TS Vũ Cao Minh công tác tại Viện địa chất ban đầu đã đem lại hiệu quả nhiều mặt trong việc giải quyết “cơn khát” trên vùng cao nguyên đá Hà Giang.

“Giam” nước trên non

“Tại sao lại không “giam” nguồn nước suối để dùng dần mà cứ phải chịu cảnh thiếu nước mỗi mùa khô đến?” - câu hỏi đơn giản trên đã dẫn đến ý tưởng thực hiện đề tài của TS Vũ Cao Minh. Sở dĩ chọn khu vực Nà Phạ làm nơi khảo sát nghiên cứu vì đặc điểm thổ nhưỡng, địa chất ở đây khá điển hình cho cao nguyên đá Hà Giang với những dãy núi trọc, trơ đá, hệ động thực vật nguyên sinh gần như bị huỷ diệt, mùa khô không có nước sử dụng. Mùa mưa nước chảy mạnh gây xói mòn, lũ quét...

Theo phân tích của ông Vũ Cao Minh, nguồn nước Nà Phạ có các điểm xuất lộ nước, khởi phát từ độ cao 1.150m đến 1.200m chảy về và hợp lưu tại bản Nà Phạ, dưới độ cao 900m thành suối Nà Phạ. Suối đổ vào hang cacxtơ chảy ngầm trong núi khoảng 1km và thoát ra ở sườn thấp, rồi đổ vào sông Nhiệm. Nguồn nước thường xuyên có lưu lượng 2m3/s. Lưu vực suối Nà Phạ trước khi chảy vào hang rộng gần 1,2km2, mặt đệm thấm nước là đất đá ít thấm nước, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Tổng lượng nước ước tính khoảng 1 triệu m3/năm, chất lượng nước có thành phần hoá lý đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt. Các hàm lượng nitrat, nitrit, amoniăc, nguyên tố vi lượng đều rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép... Từ những dữ kiện trên có thể đi đến kết luận: Với trữ lượng nước gần 1 triệu m3/năm, việc xây dựng hồ đập chứa nước ngay tại nguồn, có thể khai thác hết công suất nước, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 2 đến 3 vạn người ở mức bình quân 150lít nước/người/ngày....

Công nghệ mới trên nền cách làm cũ

Thực ra, việc tích trữ nước mưa vào hồ chứa là việc làm kinh điển như hồ Suối Hai, Suối Ba, Trị An, Sông Đà. Tuy nhiên, những công trình này thi công với chi phí rất lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, trình độ và thiết bị đòi hỏi ở mức cao và phần lớn những hồ chứa ấy lại nằm ở vị trí thấp nhất của một tổ hợp nhiều quả núi nên gần như không hỗ trợ cho việc chống hạn, chống cháy rừng và tưới tiêu trên đồi cao.

Đối với công nghệ hồ treo, cách làm mới là xây nhiều hồ nhỏ trên núi, đơn giản và tiết kiệm. Phương pháp là chọn những vị trí thuận lợi, những chỗ thắt của các con suối để xây hồ. Thấy rõ những thế mạnh của công nghệ hồ treo, tỉnh Hà Giang đã triển khai thăm dò và xây dựng thử nghiệm “hồ treo” Xà Phìn, tại bản Xà Phìn B, xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, với dung tích khoảng 3.000m3, bằng các giải pháp kỹ thuật đáy và thành hồ được gia cố, đảm bảo không bị đục hoặc thẩm thấu. Hồ được xây dựng ngay cạnh đường đi Đồng Văn, có hình trái tim được thiết kế rất thẩm mỹ và hiệu quả.

Việc thử nghiệm hồ Xà Phìn thành công đã tạo động lực cho các nhà khoa học tiếp tục đề xuất xây dựng công trình hồ treo Tả Lủng tại xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc. Hồ có dung tích 3 vạn mét khối. Để tạo mặt bằng của đáy hồ,  những người xây dựng đã phá, nổ hơn 1.000m3 đá vôi, hàng chục giếng, hang ngầm có đường kính từ 0,5  - 1m, sâu từ 5 - 10m được san lấp và gia cố bằng vật liệu chống thấm.

Cần nhân rộng  

Trong chuyến thăm Hà Giang đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đi thị sát các huyện vùng cao núi đá Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Yên Minh, trong đó có xem xét việc cấp nước sinh hoạt cho người dân. Thủ tướng đã đồng ý cho xây dựng 30 hồ chứa nước bằng giải pháp công nghệ “hồ treo” tại các huyện này với tổng kinh phí khoảng 90 tỷ đồng, bằng ngân sách nhà nước.

Hy vọng thành công từ Đồng Văn sẽ mở ra một hướng mới trong việc giải quyết những “cơn khát” ở các vùng hạn hán trên toàn quốc bởi theo tính toán của các chuyên gia Viện địa chất học: Nếu tận dụng tất cả các điều kiện tự nhiên, đặc điểm thành phần vật chất của các địa tầng, các tầng cấu trúc địa chất, địa hình, thuỷ văn, địa chất công trình, bằng công nghệ “hồ treo” có thể cung cấp nước cho tất cả người dân sống trên các vùng thiếu nước.

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, nhìn rộng ra, nếu công nghệ này được ứng dụng trên toàn quốc, những chiếc hồ treo trên núi có thể chứa và thấm được lượng nước mưa rất lớn, góp phần chống lũ lụt cho vùng đồng bằng. Nếu được nhân rộng trên quy mô toàn quốc, công nghệ này không chỉ giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt của người dân mà còn góp phần hạn chế nguy cơ về lụt lội, hạn hán, xói mòn, cháy rừng...

Theo Khoa học và Phát triển

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,899,374


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs