Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Thực hiện Chương trình 135 ở tình Bình Thước
Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc miền Đông Nam bộ. Có đường biên giới dài 240 km tiếp giáp với Vương quốc Campuchia. Diện tích tự nhiên 6.853,93 km; có 41 dân tộc hiện đang sinh sống trên địa bàn tỉnh với tổng dân số là 823.936 người. Tỉnh có 94 xã, phường vào giai đoạn II của Chương trình 135 có 20 xã và 10 thôn đặc biệt khó khăn.

Để triển khai Chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn tỉnh đem lại hiệu quả cao, ngày 06/12/2006 UBND tỉnh Bình Phước đã có Quyết định số 115/2006/QĐ-UBND về việc ban hành quy định quản lý thực hiện chương trình và củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo ở các cấp. 

Theo quyết định, Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu Quốc gia của tỉnh thực hiện nhiệm vụ của Ban chỉ đạo Chương trình 135 giai đoạn II, trong đó, Ban Dân tộc tỉnh là Thường trực Ban chỉ đạo. Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập Ban chỉ đạo Chương trình 135 giai đoạn II cấp huyện. Ban chỉ đạo ở cấp huyện do Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện làm Trưởng ban. Thường trực Ban chỉ đạo là Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, thành viên là đại diện các phòng, ban có liên quan.

Uỷ ban nhân dân huyện giao nhiệm vụ cho Ban quản lý dự án xây dựng cơ bản của huyện hoặc Ban quản lý dự án Chương trình 135 giai đoạn I để tiếp tục thực hiện dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu thuộc Chương trình 135 giai đoạn II.

Đối với cấp xã căn cứ vào năng lực quản lý cụ thể của từng xã, Uỷ ban nhân dân huyện giao cho Uỷ ban nhân dân xã làm chủ đầu tư trên cơ sở mỗi xã phải thành lập 01 Ban quản lý dự án với cơ cấu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Trưởng ban; 01 cán bộ kỹ thuật; 01 cán bộ kế toán; đại diện các tổ chức đoàn thể: Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh, Hội Phụ nữ; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân; cán bộ phụ trách công tác Dân tộc - Tôn giáo, các trưởng thôn, ấp nơi có công trình dự án là thành viên. Ban quản lý cấp xã được sử dụng con dấu và tài khoản của Uỷ ban nhân dân xã để giao dịch.

Ban giám sát xã gồm có từ 5-7 thành viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã chủ trì, có nhiệm vụ giám sát việc triển khai thực hiện từ khâu lựa chọn thứ tự ưu tiên, địa điểm đầu tư phải đảm bảo theo quy chế dân chủ cơ sở. Đồng thời Ban giám sát xã thường xuyên giám sát tiến độ thực hiện công trình đảm bảo đúng theo quy trình đầu tư xây dựng cơ bản, phát hiện góp ý xử lý kịp thời những biểu hiện tiêu cực của các đơn vị tư vấn, đơn vị thi công, chủ đầu tư, nhằm chống thất thoát kinh phí thực hiện công trình tham gia nghiệm thu công trình đảm bảo chất lượng theo hồ sơ thiết kế phê duyệt.

Do nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của Chương trình 135 giai đoạn II đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong năm 2006, năm đầu tiên thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II tỉnh Bình Phước đã được Trung ương phân bổ 17.200 triệu đồng đầu tư trên địa bàn 20 xã thuộc Chương trình 135 để thực hiện các dự án: Đầu tư phát triển sản xuất 2.400 triệu đồng; Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng 14.000 triệu đồng (bình quân 700 triệu đồng/xã) và Dự án đào tạo cán bộ xã nghèo 800 triệu đồng. 

Cùng với triển khai thực hiện các dự án từ nguồn vốn Trung ương, tỉnh đã hỗ trợ kinh phí xây dựng và đưa vào sử dụng 240 nhà văn hoá cộng đồng thôn ấp đồng bào dân tộc thiểu số và 117 nhà văn hoá cộng đồng do nhân dân tự đóng góp kinh phí xây dựng trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới khu dân cư”. Năm 2006, số thôn ấp đạt chuẩn văn hoá là 70%.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh. Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với Vụ Pháp chế Uỷ ban Dân tộc tổ chức tập huấn và triển khai các văn bản pháp luật, luật Bảo vệ và phát triển rừng, luật trợ giúp pháp lý… đến 130 cán bộ làm công tác dân tộc từ tỉnh đến cơ sở và 80 già làng có uy tín trong 68 hội đồng già làng trong tỉnh. Sau đợt tập huấn các già làng về tuyên truyền cho các thành viên trong hội đồng và các công dân trong cộng đồng hiểu biết, thực hiện.

Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với ngành Tư pháp tỉnh, huyện, xã tuyên truyền sâu rộng đến cơ sở bằng nhiều hình thức, nhiều văn bản pháp luật như luật Phòng cháy chữa cháy, luật khiếu nại, tố cáo, luật nghĩa vụ Quân sự, luật Hợp tác xã, luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em… Quan tâm chú trọng đến công tác trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách, hộ nghèo vùng sâu, vùng xa tại 90 xã vùng núi và dân tộc.

Về lĩnh vực thể dục thể thao, Ban dân tộc đã ký kết Chương trình phối hợp với Sở Thể dục Thể thao hàng năm phát động tổ chức từng huyện và cấp tỉnh 2 năm/lần với các môn bóng đá, bóng chuyền cùng các giải đấu thể thao dân tộc truyền thống như: đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ, cà kheo…

Sau một năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn tỉnh với quan điểm chỉ đạo là:

  Không đầu tư dàn trải mà phải tập trung đầu tư có trọng tâm theo thứ tự ưu tiên đồng thời phân cấp mạnh cho các xã làm chủ đầu tư. Song việc phân cấp cho các xã làm chủ đầu tư bước đầu có gặp khó khăn do trình độ năng lực của một số xã còn hạn chế chưa đảm nhận được vai trò của chủ đầu tư nên trong năm 2006 chỉ có 3 xã trên địa bàn huyện Bù Đăng làm chủ đầu tư (3/20 xã), đạt 15%.

  Sang đầu năm 2007 có thêm 5 xã huyện Phước Long; 3 xã huyện Lộc Ninh được phân cấp làm chủ đầu tư nâng tổng số xã của toàn tỉnh làm chủ đầu tư lên 11/20 xã, đạt 55%. Theo chủ trương chỉ đạo của tỉnh năm 2008 đạt 100% các xã làm chủ đầu tư. Cùng với những khó khăn trên, trong quá trình triển khai còn tồn tại một số vướng mắc như: 10 thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II được đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn II nhưng chưa được Trung ương phân bổ vốn để triển khai thực hiện; việc triển khai thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ các dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân trên địa bàn tỉnh còn chậm do chưa có hướng dẫn của Trung ương. Nguyên tắc “địa phương có công trình, nhân dân có việc làm, tăng thêm thu nhập” trên địa bàn tỉnh Bình Phước không thực hiện được so với các tỉnh phía Bắc do giá nhân công thuê mướn thủ công rất cao làm cho giá thành công trình vượt cao hơn so với thi công cơ giới.

Để thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II có hiệu quả, tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với cơ chế thị trường, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh nói chung và ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn nói riêng một cách ổn định và bền vững, giảm khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc và các vùng trên địa bàn, mục tiêu đến năm 2010, tỉnh Bình Phước phấn đấu không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 20% (giảm xuống >50% so với đầu năm 2006) là 7.665 hộ chiếm 26,85% dân số đồng bào các dân tộc thiểu số của tỉnh. Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh tập trung vào một số giải pháp sau:

1. Đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đối tượng được thụ hưởng chương trình là những hộ nghèo (theo các tiêu chí quy định tại Quyết định 170/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ), nhóm hộ gia đình đang sinh sống trên địa bàn các xã, thôn thuộc phạm vi chương trình được hỗ trợ một phần cho đầu tư phát triển dự án. Những hộ được thụ hưởng chính sách phải được bình chọn công khai từ cơ sở, Uỷ ban nhân dân xã lập danh sách thông qua Hội đồng nhân dân xã trình UBND huyện phê duyệt. Việc đầu tư phải tập trung vào các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất; hỗ trợ cây trồng vật nuôi, vật tư sản xuất, hỗ trợ mua sắm thiết bị, máy móc, công cụ chế biến bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.

Đối với nông, lâm, ngư nghiệp tập trung đầu tư khai thác và phát huy có hiệu quả những lợi thế về sản xuất nông nghiệp, nhất là cây công nghiệp dài ngày như: cây điều, cây cao su… đẩy mạnh áp dụng công nghệ sinh học, nghiên cứu và đưa các loại giống mới vào trong sản xuất nông nghiệp nhằm không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, làm tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường.

Đối với công nghiệp: Ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản chủ yếu như: hạt điều, cao su, cà phê, tiêu, hoa quả…

Đối với dịch vụ, đa dạng hóa các ngành dịch vụ nhằm phát triển tổng hợp để hỗ trợ các ngành kinh tế khác phát triển. Chú ý phát triển dịch vụ du lịch (sinh thái, lịch sử), tạo điều kiện cho các ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số phục hồi và phát triển.

2. Về phát triển cơ sở hạ tầng: Các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp với quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản xuất tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nhân dân về vật chất, văn hóa, xã hội. 

Để thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất của vùng và các xã, thôn đặc biệt khó khăn, các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị tiến hành tổng hợp, đánh giá thành tựu, khuyết điểm, yếu kém của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong các năm qua và của từng chương trình dự án để tham mưu cho UBND tỉnh có phương án lồng ghép các chương trình mục tiêu và quy định các tiêu chí để làm cơ sở phân bổ nguồn vốn đầu tư hằng năm tập trung hoàn thành các tiêu chí còn thiếu để sớm đưa xã thoát khỏi chương trình; từ năm 2008 không phân bổ vốn theo lối bình quân dàn trải như đã thực hiện ở giai đoạn I.

3. Về nội dung phương thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn và cộng đồng; Bồi dưỡng kiến thức về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong đó đặc biệt chú ý bồi dưỡng về chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để mọi người dân hiểu và thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm tăng cường phát huy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội trước hết từ từng gia đình và cộng đồng.

Đào tạo sâu kế hoạch lựa chọn và kỹ năng xây dựng chương trình, dự án và triển khai thực hiện cùng kiến thức về quản lý dự án đầu tư, trình độ giải ngân, thanh quyết toán vốn có sự tham gia của cộng đồng.

Đối với nhóm cộng đồng dân cư phải được học tập để hiểu thật đầy đủ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước qua các chính sách hỗ trợ; nâng cao hiểu biết các nguyên tắc về bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định, cũng như hiểu được các chính sách, các chương trình, dự án một cách cụ thể để tăng cường công tác giám sát của cộng đồng. 

Việc đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số cần phải được đào tạo một cách căn bản, thành thạo tay nghề (có thể vừa học văn hoá vừa học nghề đối với thanh niên còn yếu trình độ văn hóa) thời gian đào tạo tuỳ theo từng ngành nghề khác nhau do yêu cầu sử dụng của tổ chức sản xuất kinh doanh nhận sử dụng người. Kinh phí đào tạo do UBND tỉnh quyết định hỗ trợ khi phê duyệt đề án đào tạo nghề và sử dụng lao động người dân tộc thiểu số của doanh nghiệp.

Song song với việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả Chương trình 135 giai đoạn II, tỉnh Bình Phước đề nghị Chính phủ quyết định công nhận 4 xã mới tách ra từ xã 135 giai đoạn I được thụ hưởng chính sách của Chương trình 135 giai đoạn II gồm các xã: Lộc Thạnh, Lộc Thạnh, Phúc Sơn, Phước Thiện và bổ sung danh sách 10 thôn đặc biệt khó khăn đã được phê duyệt kèm theo Quyết định 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006 để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.

Xem xét phê duyệt bổ sung 53 thôn đặc biệt khó khăn đã được UBND tỉnh Bình Phước đề nghị tại tờ trình số 25/TTr-UBND ngày 21/3/2006.

Bổ sung đủ 94 xã thuộc 3 khu vực tỉnh Bình Phước để tỉnh thực hiện tốt chính sách dân tộc trên địa bàn xã (danh sách kèm theo Quyết định 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006 của Uỷ ban Dân tộc phê duyệt 62 xã thuộc 3 khu vực còn 32 xã chưa được phân định khu vực).

Đề nghị Uỷ ban Dân tộc sớm hướng dẫn thực hiện trợ giá trợ cước ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới trong diện đầu tư chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) được phê duyệt tại Quyết định 164/2006/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ không có tên trong danh sách kèm theo Quyết định số 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006 (tỉnh Bình Phước: xã Tân Hưng - huyện Đồng Phú; xã Lộc Thiện - huyện Lộc Ninh) và Uỷ ban Dân tộc sớm có hướng dẫn để các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở các xã vừa hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn I (l999-2005) được hưởng chính sách trợ giá trợ cước tạo điều kiện để họ thoát nghèo ổn định cuộc sống. Đồng thời nhanh chóng có hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thứ 4 Chương trình 135 giai đoạn Il (2006-2010) về chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật; đối với cán bộ công chức được điều động đến công tác từ sau năm 2005 ở các xã vừa hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn I (1999-2005). Uỷ ban Dân tộc cần hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Quyết định 163/2006/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 cho hưởng chính sách vùng đặc biệt khó khăn đến 2008.

 Huỳnh Thanh
                                                                         Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bình Phước

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,440,505


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs