Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/06/2009
Nghệ an sau 4 năm thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác Dân tộc
N ghệ An là một tỉnh có vùng dân tộc và miền núi rộng lớn, chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh; có 10 huyện miền núi và 6 huyện có miền núi, gồm 243 xã, thị trấn (trong đó có 115 xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999-2005 và 27 xã có chung đường biên giới với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào). Dân số vùng dân tộc miền núi Nghệ An có gần 1,1 triệu người, chiếm 37% dân số cả tỉnh, trong đó dân số dân tộc thiểu số có 409.858 người chiếm 37,3% dân số miền núi, gồm 6 dân tộc thiểu số: Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Đan Lai. Với những đặc điểm trên, vùng dân tộc miền núi Nghệ An có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX về công tác dân tộc, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể quán triệt Nghị quyết đến mọi tầng lớp nhân dân, qua đó nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

  Để đưa nghị quyết vào cuộc sống, Tỉnh uỷ Nghệ An đã xây dựng Chương trình hành động số 16-Ctr/TU, ngày 01/7/2003; tiếp đó Uỷ ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 3161/QĐ-UB, ngày 28/8/2003 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc, Quyết định nêu rõ các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, cấp bách và phân công các sở, ngành có trách nhiệm giúp đỡ các huyện, xã miền núi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng dân tộc và miền núi. Các huyện miền núi và các sở, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh, trên cơ sở quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh đều xây dựng đề án, chương trình hành động, kế hoạch cụ thể của đơn vị mình, do vậy nghị quyết đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Kết quả qua 4 năm tổ chức thực hiện: 

Thông qua việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ, đầu tư phát triển trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng thuỷ sản. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã có những chuyển biến đáng kể. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao.

  Nhiều mô hình kinh tế trang trại ở miền núi có thu nhập mỗi năm từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Các chỉ số về diện tích, năng suất của các loại cây trồng: lúa, ngô, lạc, mía, chè và đàn gia súc đều tăng từ 3-4% so với năm 2003. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng sản xuất chuyên canh tập trung nhằm tạo ra sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu dùng và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng phục vụ cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc. Đến nay có 97% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; hơn 90% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% số xã có trường học và trạm xá kiên cố đáp ứng yêu cầu học tập và chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc. Đặc biệt Chương trình 135 và 134 đã giải quyết được những khó khăn bức xúc ở vùng dân tộc và miền núi, góp phần làm cho diện mạo nông thôn miền núi khởi sắc. Nhờ có nguồn lực đầu tư thông qua các chương trình, dự án của nhà nước, kết hợp với các nguồn lực khác trên địa bàn tỷ lệ nghèo mỗi năm giảm từ 4-5% cá biệt có nơi cao hơn. 

Nhờ có sự tăng trưởng về kinh tế nên các hoạt động văn hoá, xã hội có điều kiện phát triển vững chắc. Về giáo dục - đào tạo cả chất lượng và số lượng đều tăng, nhiều con em đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa được đi học. Hệ thống trường dân tộc nội trú được hình thành từ tỉnh đến trung tâm cụm xã. Từ năm 2003-2006 đã có 386 em học sinh dân tộc thiểu số được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm và coi trọng. Hơn 80% số dân được xem ti vi, 90% được nghe đài, các báo tạp chí thuộc Chương trình 1637 (nay là 975) đã đến tận các xã và các bản làng, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hoá và mở mang hiểu biết giữa các dân tộc và các vùng miền trong nước và quốc tế. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ngày càng tốt hơn, đã kiểm soát được các dịch bệnh hiểm nghèo, đội ngũ cán bộ, y bác sỹ ngày càng được tăng cường cho miền núi, nhiều trạm y tế xã đã có bác sỹ. Các chính sách đối với người có công với cách mạng và các đối tượng được hưởng chính sách được đảm bảo chu đáo, kịp thời.

Hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết đã đề ra. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng dân tộc và miền núi, Tỉnh uỷ Nghệ An đã ban hành Nghị quyết số 14 (Khoá XV) về công tác tổ chức và cán bộ cơ sở, trong đó nhấn mạnh đối với vùng dân tộc Mông, Khơ Mú, các xã trọng điểm dọc biên giới Việt - Lào cần được quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, với các giải pháp cụ thể vì thế đến nay, nhiều cơ sở từ yếu kém, lúng túng đã trưởng thành nhiều mặt, đã chủ động trong công tác quản lí, điều hành thực hiện tốt các nhiệm vụ ở cơ sở. Đối với cán bộ người dân tộc thiểu số, tỉnh Nghệ An đã có chính sách đặc thù trong đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý, kết hợp tăng cường cán bộ chuyên môn và lực lượng vũ trang bám dân, hướng dẫn, giúp đỡ dân thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Những kết quả nêu trên cho thấy việc thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 (Khoá IX) của Ban chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã đem lại hiệu quả thiết thực. Tuy vậy trong quá trình triển khai vẫn còn những mặt hạn chế như việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường còn chậm và lúng túng. Tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng về đất đai, lao động, những lợi thế chưa được khai thác hợp lý và có hiệu quả. Công tác quản lí đầu tư còn dàn trải, phân tán, một số công trình giá thành cao, nhưng hiệu quả thấp.

  Huy động nội lực còn hạn chế. Chất lượng giáo dục - đào tạo và các hoạt động của ngành y tế, văn hoá thông tin còn nhiều bất cập. Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa vững chắc. Bản sắc văn hoá tốt đẹp đang bị mai một. Tình trạng vượt biên trái phép, di dân tự do, vận chuyển buôn bán, sử dụng ma tuý vẫn còn tái diễn và phức tạp. Một số cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở nhất là ở vùng dân tộc Mông, Khơ Mú chưa chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, hính sách của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng dân tộc còn hạn chế về trình độ và năng lực quản lí điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Những tồn tại trên có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu là do chủ quan. Đó là nhận thức về vấn đề dân tộc và miền núi của Nghệ An trong tổng thể chiến lược phát triển chung của cả tỉnh và Bắc Trung bộ chưa đầy đủ. Nhiều chính sách thiếu đồng bộ, có mặt chồng chéo, phân tán. Chậm bổ sung, sửa đổi khi cơ chế không còn phù hợp với thực tế. Một số sở, ban, ngành và huyện chưa sâu sát cơ sở nên việc chỉ đạo chưa đạt hiệu quả cao. Tư tưởng bảo thủ, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước vẫn còn tồn tại trong cán bộ và đồng bào các dân tộc.

Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu nhiệm vụ mà Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (Khoá IX) đã đề ra, trong thời gian tới tỉnh Nghệ An tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Tiếp tục tuyên truyền Nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng, kết hợp với các loại hình thông tin tuyên truyền khác để cán bộ và đồng bào các dân tộc trong tỉnh hiểu biết về mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đã đề ra để quyết tâm thực hiện, bởi “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 Khoá IX).

2. Tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, tích cực xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành. Mỗi cấp, mỗi ngành cần xây dựng kế hoạch cụ thể, tránh trình trạng dễ làm khó bỏ.

3. Nâng cao chất lượng hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hoá - xã hội. Những lĩnh vực này tiếp tục liên quan đến chiến lược con người, vì vậy cần chú trọng nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực; không ngừng trao đổi đạo đức cách mạng, động viên nhân dân tham gia xây dựng cuộc sống mới, hạn chế và tiến tới xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, ngăn chặn các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi.

4. Nêu cao vị trí, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở vùng dân tộc và miền núi. Trong đó cần kiện toàn, sắp xếp, bố trí cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tinh thần trách nhiệm cao, gần gũi nhân dân, kịp thời giải quyết yêu cầu chính đáng của đồng bào các dân tộc.

5. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Vùng dân tộc và miền núi Nghệ An có vị trí chiến lược quan trọng, đây là địa bàn nhạy cảm trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì vậy việc phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng, đảm bảo nắm thế chủ động, đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Không ngừng phát triển tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt với chính quyền và nhân dân các địa phương của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào để phát triển kinh tế - xã hội vùng biên và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia.

6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và nâng cao chất lượng công tác dân tộc.

Trên cơ sở phân công các cấp, các ngành theo dõi, giúp đỡ các địa phương vùng dân tộc, miền núi, các đơn vị được phân công cần làm tốt trách nhiệm của mình, thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra thực hiện nghị quyết. Kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác dân tộc từ tỉnh đến huyện và xã theo Nghị định số 53 ngày 18/2/2004 của Chính phủ và Quyết định số 114 ngày 4/11/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An.

Với các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể nêu trên, tin rằng việc thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Lê Vui

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,277,971


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs