Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc, miền núi tỉnh Quảng Ngãi
 19/06/2009

Tỉnh Quảng Ngãi có 6 huyện miền núi, diện tích tự nhiên 322.552 ha, chiếm 62,8% tổng diện tích tự nhiên; với 330 thôn của 63 xã, gồm chủ yếu các dân tộc H’rê, Cor và Cadong sinh sống với số dân 189.691 người (theo số liệu thống kê cuối năm 2005) chiếm 78,4% so với dân số trên địa bàn và chiếm 14,87% dân số toàn tỉnh.

Vùng miền núi dân tộc tỉnh Quảng Ngãi có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh của tỉnh; có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, thuỷ điện, du lịch sinh thái. Tuy nhiên, so với các địa phương khác trong tỉnh thì vùng dân tộc miền núi kinh tế phát triển chậm, diện tích đất sản xuất ít, dân cư sống rải rác, trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất còn lạc hậu, tình trạng phá rừng làm nương rẫy vẫn thường xuyên xảy ra; nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nghi kỵ cầm đồ thuốc độc vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII xác định, miền núi là một trong ba vùng kinh tế của tỉnh, phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ tỉnh từ nay đến năm 2010.

Cùng với việc thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Những năm qua, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo các sở, ban ngành giúp các huyện miền núi tích cực đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo theo tinh thần nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 11/1/1999 của Tỉnh uỷ (khoá XV), tình hình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 là 16,3%. Tỷ trọng giá trị sản xuất của ba lĩnh vực kinh tế chủ yếu đến năm 2005: nông - lâm - thuỷ sản 63,7%, công nghiệp - xây dựng 21,2%, thương mại dịch vụ 15,1%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là 3,1 triệu đồng/năm. Năm 2005, thu ngân sách của 6 huyện miền núi đạt 5 tỷ đồng, chi ngân sách 47,358 tỷ đồng. Đã xây dựng 219 km đường và 640 mét cầu, trên 300 công trình thuỷ lợi, bảo đảm chủ động tưới cho khoảng 2.300 ha; xây dựng 2 chợ huyện Minh Long và Sơn Tây. Đến nay, 100% các huyện miền núi có điện và mạng lưới bưu chính viễn thông.

Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có những bước phát triển nhanh chóng, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh và trong nội bộ vùng. Kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm từng bước được xây dựng cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và giao lưu hàng hoá, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp, góp phần đẩy lùi các tập tục lạc hậu, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.

Đạt được những kết quả rên đây là do sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ, chính quyền, các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân dân toàn tỉnh, trước hết là sự tự vươn lên của Đảng bộ, chính quyền, các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân dân các huyện miền núi.

Tuy nhiên, kinh tế - xã hội các huyện miền núi vẫn còn nhiều khó khăn, giá trị sản xuất công nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, thế mạnh kinh tế rừng chưa được phát huy đúng mức. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống thương mại dịch vụ còn sơ khai; du lịch sinh thái chưa phát huy được hiệu quả; hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém. Các vấn đề thiết yếu như: nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản, đồng bộ dẫn tới những khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp xa so với các vùng khác trong tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo chiếm tỷ lệ còn khá cao 74,95% so với số hộ toàn vùng và chiếm 81,9% so với tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn. Các loại dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ, lao, bệnh đường ruột,.. ở người xảy ra còn nhiều; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao chiếm 35%.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, từng bước khắc phục những tồn tại yếu kém nhằm làm chuyển biến mọi mặt về đời sống, kinh tế, xã hội, an ninh chính trị vùng dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi, ngày 07/12/2006 Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2006 - 2010. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đưa các huyện miền núi cơ bản thoát khỏi tình trạng sản xuất tự cấp tự túc, từng bước tạo lập nền sản xuất hàng hoá gắn với thị trường trên cơ sở tập trung đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển mạnh mẽ kinh tế rừng, sản xuất cây nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Tập trung nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, cải thiện căn bản đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong vùng bằng cách phát triển giáo dục, ytế, văn hoá thông tin, giải quyết tốt các vấn đề về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho nhân dân. Phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng-an ninh, bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Trong đó, chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 từ 12,5-13% thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 5,4 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 35%. Tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản giảm xuống còn 54,7%; công nghiệp-xây dựng tăng 29,4%; thương mại, dịch vụ tăng 15,9%, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 khoảng 14%. Tổng mức đầu tư cho các huyện miền núi tăng gấp 17-18 lần so với giai đoạn 2001-2005; cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào cuối năm 2007. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường mẫu giáo đạt từ 80 - 85%, tiểu học 95%, trung học cơ sở 90% và phổ thông trung học 80% vào năm 2010; đến cuối năm 2007 hoặc đầu năm 2008 hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Có 100% xã có trạm tế, 100% trạm tế có bác sĩ và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 25%; bình quân 12 - 14 máy điện thoại/100 dân. Hoàn thành cơ bản kết cấu hạ tầng các huyện miền núi, 100% tuyến đường từ trung tâm huyện đến trung tâm cụm xã được trải nhựa; 100% tuyến đường đến trung tâm cụm xã ôtô đi được quanh năm; thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu cho khoảng 1.000 ha; 85-90% hộ sử dụng điện. Để đạt được chỉ tiêu, nhiệm vụ trên trong giai đoạn 2006 - 2010 vùng miền núi tỉnh Quảng Ngãi tích cực tập trung thực hiện tốt những giải pháp sau:

1. Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội miền núi giai đoạn 2006-2010, quy hoạch chung, quy hoạch ngành, quản lý và thực hiện đúng các quy hoạch đã được duyệt. Thực hiện ngay quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch các loại rừng cho từng huyện, xã để nhanh chóng giao đất, giao rừng cho các đơn vị tập thể (ban quản lý, doanh nghiệp) và cho nhân dân phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo cho từng hộ dân đều có điều kiện sản xuất và hưởng lợi từ rừng và đất rừng.

2. Đẩy mạnh công tác khuyến nông-lâm-ngư, tăng cường chuyển giao và ứng dụng khoa học - kỹ thuật, nhanh chóng đưa những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn vào sản xuất. Xây dựng mạng lưới thú y cơ sở đủ mạnh để phòng ngừa dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.

3. Xây dựng cơ chế, chính sách riêng cho miền núi về đào tạo, bố trí, sử dụng, thu hút cán bộ, ưu tiên cán bộ là người dân tộc thiểu số; chính sách khuyến khích vốn đầu tư xã hội; chính sách phát triển giáo dục, y tế… Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình 135 giao đoạn II và tổ chức thực hiện tốt các chính sách dân tộc miền núi như chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ, trợ cước, trợ giá, chính sách tôn giáo và chính sách đối với người có công với cách mạng.

4. Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, phát triển các mạng lưới thương mại dịch vụ tại các huyện miền núi. Phát triển tín dụng, phát huy hiệu quả các ngân hàng chính sách, khuyến khích nhân dân vay vốn để sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế gia đình.

5. Tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ hỗ trợ, phối hợp của các cơ quan, đơn vị địa phương trong tỉnh và doanh nghiệp đối với các huyện miền núi. Mỗi sở, ban, ngành, Mặt trận, các đoàn thể phân công cán bộ, chuyên viên theo dõi, đề xuất phương án giúp đỡ, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho các huyện miền núi. Đồng thời, kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp triển khai các hoạt động xã hội hỗ trợ các huyện miền núi, nhất là tham gia xây dựng hạ tầng về giáo dục, ytế, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

6. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, kiện toàn củng cố tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị các huyện miền núi trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, nhất là trong lãnh đạo đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng an ninh.

TRẦN ĐÌNH TRÂN

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,915,190


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs