Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Hiệu quả và những bài học kinh nghiệm trong thực hiện Chương trình 135 ở Trà Vinh
 19/06/2009

Trà Vinh là tỉnh nghèo thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên 222.500 ha, dân số 1.062 triệu dân. Là tỉnh vừa đông đồng bào dân tộc, vừa đa tôn giáo. Toàn tỉnh có 30% là người dân tộc Khmer, 1% người Hoa và một số ít người Chăm, ấn, còn lại đa số là người Kinh. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh trên hầu hết các xã - phường - thị trấn, trong đó có trên 50 xã - phường - thị trấn có đông đồng bào sống tập trung. Kinh tế chính là nông nghiệp mà cây lúa là chủ yếu. Trình độ canh tác thấp, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã vùng sâu, vùng dân tộc chiếm gần 50% (năm 1999). Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế còn yếu kém, không đồng bộ và do địa lý không thuận lợi nên hạn chế rất lớn đến việc giao lưu và liên kết kinh tế của tỉnh với các vùng trong khu vực.

Thời gian qua, được Đảng và Nhà nước quan tâm hỗ trợ đầu tư bằng nhiều nguồn lực nhằm tạo tiền đề để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là Chương trình 135 của Chính phủ được triển khai đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, góp phần tích cực trong công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống các dân tộc và góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn và khu vực.

Qua 7 năm (1999-2005) triển khai và thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ, Trà Vinh có 38 xã đặc biệt khó khăn và 08 Trung tâm cụm xã được Trung ương hỗ trợ đầu tư, đã xây dựng được 498 hạng mục công trình các loại, trong đó có 411 hạng mục công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (06 hạng mục công trình thuộc nguồn vốn DFID bổ sung năm 2005) và 87 hạng mục công trình xây dựng Trung tâm cụm xã, với tổng vốn đầu tư trên 172 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh còn dùng ngân sách địa phương đầu tư xây dựng 47 hạng mục công trình cơ sở hạ tầng cho 4 xã khó khăn khác của tỉnh. Thực hiện dự án bố trí, quy hoạch lại dân cư ở những nơi cần thiết 20,9 tỷ đồng; dự án hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm trên 7,9 tỷ đồng; hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn 5 tỷ đồng; bồi dưỡng nâng cao kiến thức quản lý, giám sát, điều hành Chương trình 135 cho đội ngũ cán bộ và sư sãi các xã đặc biệt khó khăn được 11.190 lượt học viên, với kinh phí trên 1,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thực hiện lồng ghép trên 288 tỷ đồng từ các nguồn vốn thuộc chương trình, dự án khác để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tâng và phát triển sản xuất trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn. Với sự tập trung nguồn lực của Chương trình 135 kết hợp với các nguồn lực đầu tư khác nên hệ thống cơ sở hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn từng bước được đầu tư xây dựng đạt chất lượng tốt và phát huy hiệu quả, tạo tiền đề thúc đẩy phát triến kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, rút ngắn dần khoảng cách chênh lệch giữa vùng thành thị và nông thôn, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương được củng cố và giữ vững. Đạt được kết quả trên là do sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng, các địa phương thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 đã nêu cao trách nhiệm đối với cộng đồng. Đặc biệt, trong triển khai thực hiện có bám sát các văn bản, thông tư hướng dẫn của trên, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện trên từng địa bàn đã góp phần tích cực thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình. Cụ thể sau 7 năm thực hiện Chương trình 135, tỷ lệ hộ Khmer nghèo chiếm 29,3% so với hộ Khmer trong toàn tỉnh (theo chuẩn nghèo cũ), bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn giảm từ 3-4%/năm. Song song đó, thực hiện theo Thông tư 218 của Uỷ ban Dân tộc, tỉnh đã tổ chức rà soát, đánh giá các xã hoàn thành mục tiêu chương trình theo các tiêu chí hướng dẫn. Kết quả có 8 xã và 2 Trung tâm cụm xã đã cơ bản hoàn thành mục tiêu của chương trình.

Kế thừa Chương trình 135 giai đoạn (1999-2005), ngày 10 tháng 01 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình 135 giai đoạn II), với 4 nhiệm vụ chủ yếu: Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc; Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế, đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng; Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trơ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật. Năm 2006, Trà Vinh được Chính phủ công nhận 25 xã đặc biệt khó khăn thuộc diện đầu tư của Chương trình theo Quyết định 164 của Thủ tướng Chính phủ. Xác định tầm quan trọng của Chương trình 135 giai đoạn II và trên cơ sở những hạn chế trong triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 1999-2005, tỉnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm để tổ chức thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II đạt hiệu quả cao hơn, đó là:

-Thứ nhất, Chương trình 135 là chương trình của ý Đảng lòng dân, chương trình đã mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn trong vùng hưởng lợi rất lớn, do đó được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện.

-Thứ hai, chương trình đạt được các mục tiêu.và phát huy hiệu quả, trước hết là phải có sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp. Sự quan tâm đó được thể hiện rõ thông qua xây dựng các chương trình, kế hoạch chỉ đạo cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp có liên quan đến việc thực hiện chương trình, nhất là các ngành có chức năng tư vấn, thẩm định và trình phê duyệt.

-Thứ ba, có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là khâu phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong tỉnh với Uỷ ban nhân dân các huyện thuộc chương trình, Ban quản lý dự án 135 huyện và các xã đặc biệt khó khăn.

-Thứ tư, vai trò tham mưu tích cực của Cơ quan thường trực Chương trình 135 trong việc triển khai, kiểm tra, uốn nắn, có họp sơ kết hàng quý để phối hợp giải quyết kịp thời những vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, nhất là khâu giải phóng mặt bằng.

-Thứ năm, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về cơ chế quản lý, điều hành, giám sát công trình kết hợp với một số chuyên đề về quản lý kinh tế hộ, xây dựng mô hình sản xuất,… đã giúp cho cộng đồng có ý thức và nâng cao sự hiểu biết, từ đó tham gia tích cực công tác giám sát, quản lý nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả các công trình trên địa bàn, xây dựng được kế hoạch phát triển kinh tế gia đình và tiến tới xoá đói giảm nghèo một cách bền vững.

-Thứ sáu, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia ngay từ đầu, nhất là khâu lựa chọn xác định các hạng mục công trình ưu tiên để đầu tư xây dựng, đây là việc làm có ý nghĩa quyết định. Nơi nào thực hiện tốt nguyên tắc này thì sẽ phát huy được nội lực trong nhân dân, khai thác được tiềm năng và thế mạnh của địa phương, nhân dân sẽ tích cực tham gia giám sát, công trình sẽ đảm bảo chất lượng, không thất thoát và hiệu quả dự án được phát huy cao.

Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra từ Chương trình 135 giai đoạn I (1999-2005), tỉnh đề ra một số định hướng và giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi Chương trình 135 giai đoạn II như sau:

- Cấp tỉnh và huyện tiến hành thành lập Ban chỉ đạo Chương trình 135 giai đoạn II theo Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đó ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo.

- Phân công Cơ quan thường trực Chương trình 135 cấp huyện và tăng cường phân cấp cho xã quản lý từng dự án của chương trình.

- Xây dựng khung lộ trình thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II để làm cơ sở thu hút các nguồn vốn đầu tư khác trên địa bàn.

- Xác định đúng đối tượng đầu tư, tập trung nguồn lực bao gồm cả lồng ghép với các nguồn lực khác, không đầu tư dàn trải, xây dựng tiêu chí phân bố vốn cho từng xã, ấp.

- Các địa phương phải có kế hoạch phân loại xã, ấp để từ năm 2008 trở đi hàng năm xét những xã, ấp hoàn thành mục tiêu đưa ra khỏi diện đầu tư của chương trình.

- Thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình 135 giai đoạn II, nên ưu tiên dành nguồn lực lồng ghép với nguồn vốn khác để thực hiện, các địa phương cần phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, tập trung chỉ đạo.nâng cao năng lực sản xuất, thay đổi tập quán lạc hậu, xây dựng tập quán sản xuất mới, tiến bộ gắn với giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông sản hàng hoá, tạo chuyển biến có ý nghĩa cơ bản về tăng thu nhập, phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn thuộc phạm vi chương trình là giải pháp quan trọng hàng đầu của kế hoạch giai đoạn 2006-2010.

- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, động viên đồng bào phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết xóm làng, tương thân tương ái vươn lên trong phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách về đời sống vật chất và tinh thần giữa các dân tộc và các vùng trong tỉnh.

- Tập trung thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở, cộng đồng vùng đồng bào dân tộc với các nội dung thiết thực, tập trung vào bồi dưỡng nâng cao kỹ năng điều hành quản lý chương trình nhằm đảm bảo kỹ năng điều hành, quản lý dự án của chương trình cho cấp xã, phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo và đào tạo nghề ngắn hạn cho cộng đồng…

- Về dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình đầu tư xây dựng phải xuất phát từ nhu cầu bức xúc của nhân dân, do nhân dân lựa chọn, công trình xây dựng phải gắn với quy hoạch sản xuất và bố trí dân cư, cơ cấu đầu tư hợp lý, ưu tiên đầu tư công trình phục vụ sản xuất, không quá tập trung công trình có vốn đầu tư lớn. Đẩy mạnh phân cấp xã làm chủ đầu tư, xác định lộ trình phân cấp xã làm chủ đầu tư, đến năm 2010 có 100% xã làm chủ đầu tư các dự án của chương trình; thực hiện tốt nguyên tắc xã có công trình, dân có việc làm tăng thêm thu nhập. Đồng thời, các địa phương cần dành nguồn lực để bảo dưỡng, duy tu công trình phát huy hiệu quả và tính bền vững của công trình, của dự án.

- Tăng cường công tác phối hợp, kiểm tra, giám sát, nhất là đối với dự án có tính đầu tư xây dựng, chống thất thoát tiền của nhà nước, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của chương trình.

Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, đổi mới và phát triển đất nước. Để thực hiện có hiệu quả chương trình này đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, nỗ lực phấn đấu, nhất là các địa phương trong tỉnh phát huy tối đa các nguồn lực và quyết tâm lãnh, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình đề ra.

SƠN MINH THẮNG
Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,903,701


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs