Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Sơn Động có một làng người Dao
 19/06/2009


Đường lên Đồng Cao, công trình do WB đầu tư. Ảnh Bình Minh.

Nhìn trên bản đồ, Sơn Động nằm trên vòng cung Ngân Sơn - Đông Triều, phía Bắc và Đông giáp các huyện Lộc Bình, Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp 3 huyện của Quảng Ninh là Ba Chẽ, Hoành Bồ, Đông Triều, còn phía Tây giáp huyện Lục Nam, Lục Ngạn. Diện tích tự nhiên: 84.4,32 km2, chiếm 22,09% diện tích của tỉnh Bắc Giang. Địa hình chủ yếu là đồi núi. Huyện có 21 xã, 1 thị trấn trong đó 17 xã thuộc khu vực III, 4 xã thuộc khu vực II. Từ năm 2006, 14 xã đặc biệt khó khăn khu vực III, 26 thôn đặc biệt khó khăn của các xã khu vực II nằm trong diện đầu tư của Chương trình 135. Dân số hơn 7,2 vạn người có 14 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí, Dao, Sán Dìu, Hoa, Mường, Ê đê, Khmer, Mông, Thổ, Thái, trong đó số dân là dân tộc thiểu số: 34.480 người, chiếm 47,9%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) là 68%. Có thể nói Sơn Động là huyện dân tộc, miền núi tiêu biểu của tỉnh miền núi Bắc Giang.

Mất vài lần thay đổi, kế hoạch đi địa phương tìm hiểu, nắm kết quả sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (Khoá IX) về công tác dân tộc ở cơ sở của chúng tôi mới được thực hiện. Với tỉnh miền núi Bắc Giang chúng tôi chọn Sơn Động.

Đề nghị của chúng tôi được đến một số xã dân tộc, miền núi trong đó có xã khó khăn nhất, nhận được ngay sự đồng tình của lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh. Quyền Trưởng ban Đỗ Xuân Bình cởi mở: Chúng tôi cũng muốn như vậy, nhưng xe của các anh thế nào? Không “nhiều cầu” thì không đến được. Đồng chí Nông Văn Hợi, Phó trưởng ban của chúng tôi sẽ đi cùng đoàn. Nếu không phải dự cuộc họp ngày mai do Chủ tịch tỉnh triệu tập thì tôi đi cùng các anh. Nói rồi nhìn ra ngoài trời, vẻ lo lắng thoáng hiện trên gương mặt, giọng anh trầm hẳn: Nhưng cũng phải xem chừng thời tiết. Trời mà không ủng hộ thì cũng phải chịu. Nói rồi anh bấm máy xuống Sơn Động. “Trời xấu nhưng không mưa à, thế thì tốt rồi. Trưởng phòng đi xe máy xuống Cẩm Đàn cùng đoàn đi Thạch Sơn luôn”.
Lời đàm thoại, làm chúng tôi yên tâm lên đường.

Xe qua Lục Nam, Lục Ngạn, dọc quốc lộ 31 những khu công nghiệp, những cơ sở kinh doanh, những nhà ở cao tầng của người dân rồi những thị tứ, thị trấn nhộn nhịp, sầm uất cùng những đồi vải thiều đang mùa trổ hoa mang đến những ấn tượng về sự đổi thay đi lên của một vùng miền núi, dân tộc một thời thiếu khó. Đến thị trấn Chũ, nơi đặt trụ sở làm việc của cơ quan huyện Lục Ngạn, thị trấn đang được mở rộng. Anh Hợi nói: “Đây là đất của anh Bình”. Trước khi về Ban, anh Bình là Phó chủ tịch Lục Ngạn. Còn tôi, năm 1999 đang là quyền Chủ tịch Sơn Động. Anh đỗ Xuân Bình dân tộc Sán Dìu, tôi dân tộc Tày. Hai anh em đều là “dân nông nghiệp”, ra trường về công tác ở phòng nông nghiệp rồi trưởng thành lên. Anh Bình sau còn về học cao học. Với cây vải thiều - cây xoá đói giảm nghèo làm giàu của nhiều người dân các huyện miền núi Bắc Giang cũng lắm vui buồn. Được như hôm nay nhưng đâu đã hết lo. Chả nhẽ cứ mỗi nhà một lò sấy thủ công, rồi cứ đôn đáo chạy khi có sâu bệnh, còn giá cả năm trồi, năm sụt…

Quốc lộ 31 vào địa phận Sơn Động mặt đường không còn phẳng và như hẹp hơn. Nhận xét của chúng tôi được Trưởng phòng Dân tộc Hoàng Thái Sơn ủng hộ ngay. Rồi anh cho biết khá cặn kẽ về mạng lưới giao thông chủ yếu là đường bộ, được phân bố tương đối hợp lí của Sơn Động. Đó là ngoài 2 tuyến quốc lộ 31 và 279 với chiều dài 63 km là 5 tuyến đường trục huyện và hệ thống đường liên xã, liên thôn có chiều dài gần 360 km, song hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn cấp hạng; cầu, cống qua suối thiếu nhiều; đường cấp phối và đường đất là chủ yếu, đi lại khó khăn nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa vào mùa mưa lũ. Như minh chứng cho lời của Trưởng phòng Dân tộc, con đường đến Thạch Sơn và đặc biệt từ thôn Vườn Khoang đến Đồng Cao thật gian khổ. Chiếc xe “Dự án” có lúc như bò, tiếng trò chuyện trên xe lặng hẳn. Càng lên cao con đường càng nhiều cua ngoặt và dốc. Mây mù làm mờ kính xe. Mặt đường loáng nước. Đồng chí lái xe nói như chấn an: Xe cài cầu rồi đường trơn mấy cũng không sợ còn dốc đã có số phụ, các anh cứ yên tâm. Và chiều ý phóng viên Bình Minh, lái xe cho xe dừng lưng dốc để cảnh vượt đèo xuống dốc được thu vào ống kính.

- Đến Đồng Cao rồi! Trưởng phòng Dân tộc nói trong niềm vui. Anh là người nhiều lần lên Đồng Cao nhưng từ ngày con đường do WB (Ngân hàng Thế giới) đầu tư xây dựng xong để Đồng Cao không vì cao mà cách biệt với xã, với huyện thì là lần đầu, ở độ cao hơn 500m so với mặt biển, giữa bốn bề núi dựng là một thung lũng khá bằng phẳng. Đất được chia thành những ô, thửa không đều. Dưới chân núi quanh thung lũng là những căn nhà của các hộ dân. Trưởng thôn, một phụ nữ có tuổi, nhỏ thó nhưng nhanh nhẹn. Chị mời chúng tôi vào nhà. Nhà chị cũng là trụ sở của thôn. Chị bảo: Các thôn, làng khác có nhà văn hoá, Đồng Cao mình chưa có thì phải vậy thôi, các cán bộ thông cảm hộ đồng bào. Sang năm cán bộ đến chắc sẽ khác nhiều đấy.

Chị trưởng thôn, họ tên đầy đủ là Trần Thị Vân, sinh năm 1957, dân tộc Kinh. ở lâu với đồng bào dân tộc, cách nói của chị cũng giống đồng bào. Quê Tứ Kỳ, Hải Dương, năm 1963, gia đình chị cùng 30 hộ lên đây khai hoang xây dựng quê hương mới. Đến nay chỉ còn gia đình chị trụ lại, các gia đình khác người đi miền Nam, người xuống Lục Ngạn, Lục Nam… sinh sống. Hiện thôn Đồng Cao có 18 hộ với 97 khẩu trong đó 1 hộ người Kinh, 1 hộ người Cao Lan còn lại là các hộ người Dao nên trong vùng còn gọi Đồng Cao là thôn người Dao. Đồng Cao - cánh đồng ở trên núi cao thì sao khỏi thiếu nước. 16 mẫu ruộng của thôn chỉ cấy được 1 vụ. Năm thuận cho thu một tạ, tạ rưỡi thóc một sào, đủ thóc gạo ăn. Năm hạn như năm 2006, cây lúa không biết ra cái hạt, mỗi nhà chỉ mang về được vài chục cân; còn chăn nuôi trâu, bò, ngựa thì các hộ không có vốn. Cây vải thiều không hợp đất. Cây chè, trước đây bà con đã trồng, phát triển tốt nhưng thu về gánh đi bán xa, đường đi khó khăn, giá rẻ đành bỏ…

Câu chuyện của chúng tôi phải dừng. Ngoài sân, tiếng chào vọng thật hồ hởi: “Các cán bộ tỉnh, cán bộ Trung ương về thôn mình à. Cho mình chào cán bộ”. Chị Vân nói với chúng tôi đấy là ông đặng Văn Thanh trước là trưởng thôn. Vào nhà, ông Thanh nhận ngay ra vị lãnh đạo huyện năm nào. Vừa nắm tay chúng tôi, ông vừa “Cảm ơn Trung ương”, “Cảm ơn WB” đã làm con đường cho thôn. Rồi tự nhiên vẻ mặt ông kém vui, ông nói: Hồi làm trưởng thôn, tháng nào cũng phải xuống xã họp. Vượt dốc, vượt đèo mình ngại lắm đấy nhưng phải cố gắng. Cuối năm 2002 chia lại ruộng đất, huyện, xã không chia cho nhà mình, mình bực xin nghỉ. Sao mấy nhà nó bỏ đi tận An Lập, cách thôn mình bốn, năm chục cây số vẫn được chia ruộng, còn mình lại không được. Đến bây giờ mình vẫn chưa thông suốt đâu. Nói xong ông bảo mình phải về để cán bộ làm việc. Chị trưởng thôn đứng dậy tiễn ông. Ngồi trong ngôi nhà tuềnh toàng - gia sản lớn nhất của trưởng thôn Đồng Cao - người hơn 30 năm trước nghe theo lời Đảng đi khai hoang, xây dựng quê hương mới rồi đã gắn bó cuộc đời của mình, của gia đình mình với vùng dân tộc, miền núi, với thôn người Dao đang bộn bề thiếu khó.

Nhiều năm qua, vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhất là ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư thông qua những chính sách, chương trình, dự án cụ thể, thiết thực như: Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; trợ giá, trợ cước; hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đời sống khó khăn; Chương trình kiên cố hoá trường lớp học; giao thông nông thôn; khuyến nông thôn bản… Đặc biệt là Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới (gọi tắt là Chương trình 135) được thực hiện từ năm 1999, giai đoạn I đã kết thúc vào năm 2005 và đã chuyển sang thực hiện giai đoạn II từ 2006 đến 2010.

Trong giai đoạn I, suất đầu tư trên đầu xã những năm đầu là 400 triệu đồng/năm, từ 2003 lên 500 triệu, liên tục trong 7 năm. Với nguồn đầu tư của Chính phủ ở các xã đặc biệt khó khăn đã có đường đến trung tâm xã, hầu hết có điện, có trạm xá, trường, lớp học cao tầng, công trình thuỷ lợi được xây dựng mới và sửa chữa nâng cấp; có công trình nước sạch, có trạm truyền thanh, có nhà văn hoá… nhờ vậy bộ mặt nông thôn miền núi đã có những thay đổi rất cơ bản, tạo điều kiện để người dân ổn định đời sống, phát triển sản xuất, góp phần xoá đói giảm nghèo. Kết quả ấy đã làm nên một “thương hiệu” của chương trình mang ý Đảng, lòng dân; của thành công trong “cuộc chiến” xoá đói nghèo ở vùng “lõi nghèo” được nhân dân cả nước đồng tình ủng hộ và các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Song cũng như sự chưa hiện diện của những điện, đường, trường, trạm… trên địa bàn Đồng Cao - một trong 3 thôn của xã đặc biệt khó khăn Thạch Sơn, người dân ở đây gần như đều không biết gì về Chương trình 135. Bởi không điện, không đài, không ti vi, báo có vài tờ nhưng người dân không biết đọc. Còn với trưởng thôn Trần Thị Vân: Khi xuống xã họp cũng có lần được xã nói đến nhưng không rõ ràng như cán bộ hôm nay nói đâu. Nhưng cũng tại mình nữa. Gọi là biết chữ nhưng mình mới học đến lớp 4, mà học lâu rồi. Đến họp chỉ nhập tâm, không ghi chép được. Với lại thôn mình ở cao quá, từ trước đến đầu năm nay chưa có đường lên. Mình mỗi lần xuống xã họp phải theo đường mòn, đi mất 3 giờ đồng hồ, vất vả lắm. Người đi còn khó thì cái công trình nó đi làm sao được. Xã bảo để đầu tư sau. Hôm khánh thành đường WB, các bác lãnh đạo trên tỉnh, trên huyện nói sẽ đầu tư cho thôn Đồng Cao đập nước, xây lớp học cắm bản, còn chỗ các cháu đang học sẽ để làm nhà văn hoá của thôn. Từ hôm ấy bà con trong thôn vui lắm.

Trên đường đến lớp mầm non - công trình cũng nằm trong dự án của Ngân hàng Thế giới (WB) dành cho 6 tỉnh miền núi phía Bắc, với 2 đơn nguyên được xây kiên cố có cổng, có tường bao chắc chắn. Theo kế hoạch thì giữa năm xong sẽ đón các cháu sang học. Còn hiện giờ các cháu đang phải học chung ở lớp cắm bản. Lớp học là nhà của một hộ dân chuyển đi nơi khác xã mua lại, một phần dành cho lớp học, một phần dành làm nơi ở của các thầy cô. Cả thôn Đồng Cao đang có 16 cháu đi học, 6 cháu học mẫu giáo, 10 cháu học từ lớp 1 đến lớp 5. Đây chính là số người biết chữ của thôn, còn người lớn đều không biết chữ. Chị Vân bảo: Nhiều lúc nhìn các cháu đến lớp tôi cứ ước mong chúng lớn thật nhanh để có người đỡ việc của thôn, của xóm.

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,899,505


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs