Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Trợ giá, trợ cước thúc đẩy phát triển sản xuất ở vùng miền núi tỉnh Bình Thuận
 19/06/2009


TrungTrung tâm dịch vụ miền núi Bình Thuận đang thu mua bắp lai của đồng bào. Ảnh Minh Hiền

Tỉnh Bình Thuận có 15 xã thuần đồng bào dân tộc thiểu số và 32 thôn xen ghép (trong đó có 11 xã vùng cao với 2.669 hộ/14.044 người và 4 xã thuần dân tộc Chăm). Qua 8 năm thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước của Trung ương và lồng ghép một số chính sách hỗ trợ của tỉnh (chính sách đầu tư ứng trước, bao tiêu sản phẩm), đã đạt được một số kết quả như sau.

Về thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước; căn cứ kế hoạch kinh phí trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng năm của Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính thông báo cho tỉnh và các văn bản hướng dẫn của ủy ban Dân tộc Trung ương; Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Thuận giao cho Ban Dân tộc tỉnh chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh phân bổ kinh phí cho từng loại mặt hàng, đơn giá trợ giá, trợ cước và hướng dẫn đơn vị trực thuộc tỉnh vận chuyển các mặt hàng lên miền núi, xây dựng phương án tổ chức triển khai ở từng khu vực địa bàn dân cư cụ thể. Đối tượng thu mua là nhân dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp ở các xã miền núi, vùng cao thuộc địa bàn khu vực II, khu vực III và vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung nhưng thuộc địa bàn khu vực II và III (riêng muối Iốt được trợ giá, trợ cước cả 3 khu vực). Căn cứ giá bán, giá mua các mặt hàng trợ giá, trợ cước vận chuyển các đơn vị thu mua niêm yết giá tại các điểm, các đại lý mua, bán hàng; thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã biết để cùng phối hợp việc quản lý chung đồng thời là cơ sở xác nhận số lượng hàng hóa mua, bán ở địa phương để làm cơ sở thanh quyết toán về kinh phí. Riêng đối với việc thu mua sản phẩm, các đơn vị được phân công thu mua tại địa bàn dân cư, giá mua không được thấp hơn giá sàn cho phép, không được mua sản phẩm của tư thương và không được mua sản phẩm từ các địa phương khác đến bán để được hưởng trợ cước sản phẩm.

Kết quả cụ thể: Trong 8 năm tổng kinh phí thực hiện là 25.381 triệu đồng; trong đó trợ giá giống cây trồng, cây ăn quả, muôi Iốt, cấp máy thu thanh trên 14.313 triệu đồng; trợ cước vận chuyển giống cây trồng, cây ăn quả, muối Iốt, dầu lửa, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, than đá, thuốc chữa bệnh trên 6.523 triệu đồng; trợ cước vận chuyển tiêu thụ bắp lai, mì lát (sắn) trị giá trên 2.271 triệu đồng. Ngoài ra, tỉnh còn đầu tư phát triển 9 trạm truyền thanh trị giá 1.23,4 triệu đồng; cấp không thu tiền giấy vở học sinh, thuốc chữa bệnh trí giá 1.049,7 triệu đồng.

Song song với việc thực hiện trợ giá, trợ cước, từ năm 2003 đến nay, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cũng đã lồng ghép chính sách mô hình đầu tư ứng trước cho hộ dân tộc thiểu số trong tỉnh. Thông qua Trung tâm Dịch vụ miền núi (trực thuộc Ban Dân tộc); trong 4 năm qua đã đầu tư cho 6.909 lượt hộ sản xuất trên 8.042ha bắp lai, với tổng kinh phí trên 11.707 triệu đồng trong đó đầu tư thông qua hiện vật là 112,5 tấn giống bắp lai, 1.799 tấn phân hóa học, trên 22 tấn thuốc bảo vệ thực vật và 82,75 tấn gạo và một số hàng hóa thiết yếu khác. Đồng thời các đơn vị kinh tế kỹ thuật của tỉnh thường xuyên mở lớp chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất chăn nuôi được đông đảo nông dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia.

Nhìn chung việc thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước của Trung ương và 4 năm thực hiện lồng ghép các chính sách đầu tư ứng trước, bao tiêu sản phẩm của tỉnh, các đơn vị được tỉnh phân công đã thực hiện tốt việc cung ứng hàng hóa đúng địa bàn, đúng đối tượng và các mặt hàng giao theo đúng hướng dẫn của Uỷ ban Dân tộc và quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số có đủ giống, vật tư để sản xuất, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đồng thời, đã giúp cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu tiếp cận cách làm ăn mới (thông qua hợp đồng kinh tế); hạn chế tình trạng tư thương cho vay nặng lãi, thu mua ép cấp, ép giá; tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ tập quán sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, nâng cao đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh; từng bước tạo được môi trường kinh doanh ở miền núi vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ những kết quả trên đã khẳng định chính sách trợ giá, trợ cước của Trung ương và chính sách bao tiêu sản phẩm, đầu tư ứng trước của tỉnh là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, trực tiếp góp phần cải thiện đời sống của đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số; bộ mặt nông thôn miền núi trong tỉnh có nhiều khởi sắc, lòng tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước được nâng lên.

Tuy nhiên, do nguồn kinh phí trợ cước, trợ giá thấp nên chưa đáp ứng với yêu cầu của nhân dân được hưởng chính sách nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Mong muốn của tỉnh Bình Thuận là đề nghị Trung ương tiếp tục trợ cước, trợ giá cho đồng dân tộc thiểu số và nên hỗ trợ cho cả khu vực II và khu vực III liền kề nhau, đời sống đồng bào đều có sự khó khăn; và hỗ trợ kinh phí có mục tiêu cho tỉnh Bình Thuận mỗi năm từ 6-8 tỷ đồng để tiếp tục có điều kiện thực hiện việc trợ giống cây trồng và trợ cước tiêu thụ sản phẩm nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh, tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội ở vùng đồng bào dân thiểu số nói riêng và trong toàn tỉnh Bình Thuận nói chung.

THANH THỊ MINH HIỀN

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,461,974


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs