Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức người dân tộc thiểu số ở Ninh Thuận hiện nay
 19/06/2009


Cô và trò trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Văn Chấn, Yên Bái trong giờ thực nghiệm môn hóa. Ảnh TTXVN

Ninh Thuận là tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ; phía bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông. Toàn tỉnh có 4 huyện, 1 thị xã với 59 xã, phường, thị trấn, trong đó có 29 xã miền núi; có 2 huyện miền núi là Ninh Sơn và Bác ái. Là tỉnh có nhiều dân tộc anh em cho nên lịch sử, phong tục tập quán tín ngưỡng và tôn giáo cũng khác nhau. Do địa hình xung quanh bị núi non bao bọc tạo nên vùng khí hậu khô nóng, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Vùng miền núi Ninh Thuận trong kháng chiến là căn cứ địa của Khu VI Nam Trung bộ với địa danh Bác ái nổi tiếng anh dũng, kiên cường.

Nhận rõ tầm quan trọng của công tác cán bộ, nhằm khắc phục sự hụt hẫng của đội ngũ cán bộ công chức, sau khi tái lập tỉnh Ninh Thuận, Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chủ trương đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với những chủ trương giải pháp đồng bộ, nhằm nâng cao chất lượng công tác cán bộ, nhất là coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Trong năm 2002, các cấp chính quyền từ tỉnh xuống huyện đã mở được 18 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 1.452 cán bộ công chức, trong đó có 325 cán bộ công chức dân tộc thiểu số tham gia học tập, chiếm 22,4%; cụ thể là 1 lớp bồi dưỡng Công an xã có 3/116 cán bộ học tập; 1 lớp bồi dưỡng Hội cựu chiến binh 19/120 học viên; 3 lớp bồi dưỡng Hội nông dân 122/218 học viên; 1 lớp bồi dưỡng chính quyền cơ sở 11/31 học viên… Các lớp đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ có 206 người, trong đó cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số: Cao học 1 người; sau đại học 5 người; đại học 3 người; trung cấp 4 người.

Được sự đồng ý của Thường vụ Tỉnh ủy, trường Chính trị tỉnh đã mở 8 lớp trung cấp lý luận chính trị cho 365 học viên, trong đó có 87 học viên là người dân tộc thiểu số, nhằm nâng cao nhận thức lý luận cho cán bộ công chức cấp huyện và cơ sở. Ngoài những lớp trên, tỉnh còn mở 1 lớp trung cấp pháp lý có 44 học viên, trong đó cán bộ công chức dân tộc thiểu số có 4 người; 1 lớp Đại học chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, có 83 học viên, trong đó cán bộ công chức dân tộc thiểu số có 1 người. Riêng năm 2003, huyện Bác ái đã mở 1 lớp trung cấp lý luận chính trị cho 45 cán bộ công chức, trong đó 41 học viên là người dân tộc; đầu năm 2006 huyện đã mở thêm 1 lớp có 45 học viên, trong đó hơn một nửa cán bộ công chức dân tộc thiểu số tham gia học tập. Năm 2004, huyện Ninh Sơn cũng mở 1 lớp trung cấp lý luận chính trị có 68 học viên, có khoảng 30% cán bộ công chức dân tộc thiểu số tham gia học tập. Hiện nay tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số cấp tỉnh có 46/1195 người, chiếm 3,85%; cấp huyện 73/715, chiếm 21%; cấp xã 321/1173, chiếm 27,37%.

Bám sát chủ trương của Đảng, cán bộ chủ chốt từ tỉnh xuống huyện phải được trang bị chương trình lý luận cao cấp, từ khi tái lập tỉnh đến nay, tỉnh đã mở được 4 lớp cao cấp lý luận chính trị cho 467 học viên, trong đó 3 khóa (358 học viên) đã tốt nghiệp, có 26 cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Riêng khóa 4 cao cấp lý luận đang học có 109 học viên, trong đó có 6 cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Chính các lớp học này đã góp phần nâng tầm lý luận, tầm nhìn, bản lĩnh, đủ sức giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong tỉnh. Bằng các chủ trương và giải pháp đúng nên trong những năm qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, bước đầu đội ngũ cán bộ công chức nói chung, cán bộ công chức dân tộc thiểu số nói riêng đã có tiến bộ nhất định về nhận thức, kiến thức các mặt, nhất là năng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện, kinh nghiệm vận động quần chúng… góp phần từng bước hoàn thiện bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo chuyển biến về kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số còn chắp vá, chưa đồng bộ, mới chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt, thiếu chiến lược. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các huyện miền núi mới mang lại hiệu quả thiết thực; Một số cơ quan, đơn vị cử cán bộ công chức đi học chưa đúng quy hoạch, kế hoạch, chưa đúng nội dung, đối tượng theo quy định. Do hạn chế về trình độ văn hoá nên số cán bộ công chức dân tộc đưa đi đào tạo, bồi dưỡng chưa nhiều, còn gặp khó khăn trong việc tạo nguồn; Sự cân đối giữa đào tạo lý luận và chuyên môn nghiệp vụ có lúc xử lý chưa tốt, có giai đoạn lại thiên về đào tạo lý luận chính trị mà không chú ý đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, quản lí kinh tế, quản lí nhà nước. Trong đào tạo, bồi dưỡng nặng về trình bày lý thuyết, chưa đi sâu luận giải những vấn đề thực tiễn đặt ra. Chưa coi trọng trang bị kiến thức kỹ năng thực hành, xử lý các tình huống có tính chất tác nghiệp gắn với chức trách nhiệm vụ của cán bộ công chức dân tộc thiểu số sát hợp với địa phương, ngành; Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lí về đào tạo, bồi dưỡng và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chưa thường xuyên, chưa thống nhất và thiếu chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát còn coi nhẹ. Còn lúng túng trong việc xây dựng tiêu chí và các giải pháp cụ thể để đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng qua thực tế công tác của cán bộ công chức dân tộc nhằm từng bước đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh hiện nay.

Những hạn chế yếu kém trên có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, trong những năm đầu triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng (1996,1997), còn nhiều lúng túng, đa số các sở ngành, đơn vị chưa xây dựng được quy hoạch hoàn chỉnh về đào tạo, bồi dưỡng, cơ cấu cán bộ công chức dân tộc thiểu số trong từng cơ quan, đơn vị. Thứ hai, hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng và các cơ sở thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sự đồng bộ trong phối hợp lập kế hoạch và triển khai cụ thể. Thứ ba, do xuất phát điểm về kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế, mặt bằng dân trí thấp nên phần lớn cán bộ dân tộc thiểu số trong diện quy hoạch chưa đạt chuẩn. Hơn nữa một bộ phận cán bộ dân tộc thiểu số còn biểu hiện tự ti, mặc cảm, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên. Thứ tư, ngân sách dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức còn hạn chế; hơn nữa Ninh Thuận còn là tỉnh nghèo nên lại càng khó khăn hơn trong đào tạo, bồi dưỡng. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số của tỉnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, cần thực hiện tốt mấy giải pháp sau đây:

1. Khảo sát đánh giá lại đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số hiện có. Thông qua khảo sát, đánh giá giúp cấp ủy đảng trong tỉnh nắm chắc hiện trạng ưu, khuyết điểm, yếu, thiếu những mặt nào, xu hướng triển vọng của từng cán bộ cũng như thừa thiếu trong bộ máy. Qua đó mới xác định các chủ trương, giải pháp sát hợp với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số không chỉ đáp ứng đòi hỏi của những năm trước mắt mà cả trong 10 - 15 năm tới. Cần xây dựng các tiêu chí để khảo sát đánh giá. Chẳng hạn như phẩm chất, trình độ học vấn, sở trường sở đoản, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, xu hướng triển vọng, năng lực tổ chức thực tiễn và uy tín trong quần chúng. Lượng hóa càng cụ thể càng giúp các cấp ủy thực hiện tốt các khâu tiếp theo của công tác cán bộ. Kết hợp chặt chẽ các kênh để khảo sát đánh giá cán bộ. Mỗi kênh nhận xét đánh giá vừa có ý nghĩa tham khảo, vừa bổ sung cho nhau để tiệm cận được bản chất của cán bộ. Ngoài sự nhận xét đánh giá của cấp ủy quản lý trực tiếp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, cần coi trọng lấy ý kiến nhận xét đầy tâm huyết, có trách nhiệm của quần chúng, bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”.

2. Chủ động làm tốt công tác quy hoạch cán bộ. Quy hoạch là khâu quan trọng của công tác cán bộ, thể hiện tính chủ động, khắc phục được sự hẫng hụt, chuyển tiếp vững vàng các thế hệ cán bộ. Thực tiễn trên địa bàn cho thấy, tình trạng “thắp đuốc” đi tìm cán bộ là do không làm tốt quy hoạch cán bộ. Quy hoạch cán bộ cần theo hướng mở và động; nguồn quy hoạch không chỉ bó hẹp trong cơ quan, đơn vị mà còn phải tính đến ở cơ quan, đơn vị khác. Một chức danh dự nguồn cần dự kiến quy hoạch cho 2-3 chức danh trong tương lai. Đảm bảo 3 độ tuổi liền kề cho một chức danh quy hoạch và nhất thiết cán bộ dự nguồn phải trẻ hơn cán bộ đương chức, cấp phó phải trẻ hơn cấp trưởng. Đồng thời phải tính đến cơ cấu dân tộc trong từng đơn vị sao cho vừa đảm bảo tính cân đối, hợp lý giữa cán bộ người Kinh với cán bộ dân tộc thiểu số và trong đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số để hỗ trợ bổ sung kiến thức cho nhau. Hiện nay ở Ninh Thuận dân tộc Chăm có 55.839 người, chiếm hơn 10,74% dân số; dân tộc Răclây có 46.768 người, chiếm 9,38%; còn các dân tộc khác chiếm khoảng 1,52%, do đó cũng cần chú ý tính cân đối giữa các dân tộc. Định kỳ kiểm tra chất lượng công tác quy hoạch cán bộ dự nguồn, để nắm chắc hơn chất lượng đội ngũ dự nguồn, qua đó có biện pháp thay thế, bổ sung thêm nguồn quy hoạch khi các chức danh quy hoạch không có chiều hướng phát triển, thậm chí vi phạm pháp luật, tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống; mặt khác có cơ sở để lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng.

3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Đất nước ta đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với chủ trương mở cửa hội nhập càng đặt ra yêu cầu cấp bách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, cán bộ công chức dân tộc nói riêng. Không cập nhật, tích hợp thêm kiến thức thì cán bộ khó có thể hoàn thành nhiệm vụ. Lười học tập, lười suy nghĩ cũng là biểu hiện của sự thoái hóa. Cần đa dạng hóa các kênh, nội dung chương trình đào tạo; kết hợp các hệ đào tạo chính quy, tại chức, bồi dưỡng, tập huấn, tham quan trao đổi kinh nghiệm và tự học tập của cán bộ. Ngoài việc trang bị kiến thức lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo các hệ sơ, trung, cao cấp để củng cố niềm tin, lập trường quan điểm, cần căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ chuyên môn của từng cán bộ công chức dân tộc mà tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho phù hợp, tránh lãng phí trong đào tạo, bồi dưỡng. Chú trọng đổi mới đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ công chức dân tộc theo hướng vừa trang bị kiến thức cơ bản, vừa coi trọng trang bị kỹ năng thực hành, “cầm tay chỉ việc”, để họ thuần thục công việc được giao. Coi trọng xử lý các bài tập tình huống sát với thực tiễn cơ sở để cán bộ dân tộc thiểu số dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm.

4. Bố trí sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Sử dụng đúng hợp lý đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số không chỉ tạo điều kiện, khích lệ cán bộ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà còn làm cho bộ máy luôn ổn định, hoạt động nhịp nhàng. Căn cứ vào tiêu chuẩn, năng lực sở trường của cán bộ để bố trí sử dụng cán bộ, khắc phục tình trạng “thợ mộc đi rèn dao”, dẫn tới hiệu quả công việc không cao. Ngoài những tiêu chí trên, khi bố trí sử dụng cán bộ còn phải tính đến cơ cấu giới, độ tuổi, dân tộc, đặc điểm tâm lý, khí chất của cán bộ. Tư duy trực quan, bộc trực thẳng thắn là một trong những đặc điểm của cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Có nhận biết đầy đủ các khía cạnh tư duy, tâm lý, một mặt có cơ sở để sắp xếp hợp lý hơn, mặt khác tạo ra sự đồng thuận đoàn kết thống nhất trong đội ngũ cán bộ. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã tổng kết “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”.

5. Đổi mới chính sách, tạo động lực cho cán bộ công chức dân tộc thiểu số cống hiến trưởng thành. Chính sách đúng, hợp lý vừa thúc đẩy công tác đào tạo, bồi dưỡng, vừa khích lệ cán bộ công chức dân tộc toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp chung. Chính sách bao hàm cả vật chất lẫn tinh thần, cả về đào tạo, bồi dưỡng lẫn bố trí sử dụng. Cần ưu tiên đầu tư kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hỗ trợ kinh phí cho cán bộ công chức dân tộc thiểu số yên tâm học tập, công tác. Nên chăng cần đa dạng hóa nguồn kinh phí đào tạo để huy động các nguồn lực, kể cả sự đóng góp của từng cán bộ tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Nhưng ngân sách của Trung ương vẫn là kênh chủ đạo để đầu tư cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội miền núi và đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số. Minh bạch, công khai hóa chế độ chính sách hỗ trợ cho cán bộ công chức dân tộc thiểu số đi đào tạo trong và ngoài tỉnh, để họ chuyên tâm học tập, có thêm bản lĩnh, kiến thức phục vụ quê hương.

NGUYỄN THẾ TƯ
Học viện Chính trị khu vực III
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,914,473


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs