Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/04/2007
Phát huy thành tích vẻ vang, phấn đầu hòan thành nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới.


Đồng chí Ksor Phước, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thăm đồng bào dân tộc huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

Vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên hơn 8.000 km2, chiếm 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Toàn vùng có 11 huyện, 223 xã với dân số trên 1 triệu người, trong đó có hơn 600 nghìn người là đồng bào các dân tộc: Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Cách đây 60 năm, ngày 20/2/1947, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hoá, nói chuyện với cán bộ và các tầng lớp nhân dân, Người huấn thị: Thanh Hoá phải trở thành một tỉnh “Kiểu mẫu”. Cũng trong dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư đến đồng bào Thượng du tỉnh Thanh Hoá (21/2/1947), bức thư ân tình động viên đồng bào các dân tộc thiểu số chuẩn bị cho kháng chiến.

Đặc biệt, chưa đầy 2 tháng sau, ngày 4/4/1947 - nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Người đã ký Sắc lệnh 41/SL về việc thành lập 1 Uỷ ban hành chính đặc biệt miền Thượng du Thanh Hoá - tiền thân của cơ quan công tác Dân tộc ngày nay. Nội dung của Sắc lệnh nói rõ quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban đặc biệt Thượng du là “giúp Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá giải quyết công việc ở 6 châu miền Thượng du”. Ngoài ra, Sắc lệnh 41/SL còn giao nhiệm vụ cụ thể, ngắn gọn và rất cấp thiết đối với tình hình miền núi Thanh Hoá lúc bấy giờ đó là “Động viên dân chúng để chuẩn bị kháng chiến; đốc suất việc tăng gia sản xuất; phát triển bình dân học vụ”. Việc ban hành Sắc lệnh 41/SL là một quyết sách chiến lược sáng suốt của Trung ương Đảng và Bác Hồ, đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân và giải quyết tình thế bức xúc về công tác chỉ đạo ở vùng Thượng du Thanh Hoá thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhận rõ vị trí quan trọng chiến lược vùng dân tộc miền núi của tỉnh, ngay từ những ngày đầu mới thành lập Uỷ ban hành chính đặc biệt (tiền thân cơ quan công tác Dân tộc) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá đã đi vào hoạt động có hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng lực lượng kháng chiến bảo vệ chính quyền cách mạng; phát triển sản xuất vùng miền núi. Cùng với đồng bào trong toàn tỉnh và cả nước thực hiện công cuộc kháng chiến kiến quốc. Bằng những chiến thắng đã đi vào lịch sử cùng các địa danh: Mường Xia, Mường Lát, Hồi Xuân, La Hán; Cổ Lũng v.v... và những người con anh hùng của rừng núi xứ Thanh như Trương Công Man (dân tộc Mường, huyện Cẩm Thuỷ), anh hùng Lò Văn Bường (dân tộc Thái, huyện Thường Xuân) còn sáng mãi.

Kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thanh lại đoàn kết chung tay khôi phục phát triển kinh tế - xã hội. Ban Cán sự Miền Tây; rồi Ban Miền Tây, lại tiếp tục cùng với chính quyền các cấp tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc miền núi đoàn kết sản xuất, chiến đấu phục vụ chiến chiến và sẵn sàng chi viện vì miền Nam ruột thịt. Thông qua các cuộc vận động lớn như cuộc vận động cải cách ruộng đất, xoá bỏ chế độ bóc lột của Thổ Ty lang đạo; cuộc vận động phong trào hợp tác hoá nông nghiệp xây dựng tổ đổi công; cuộc vận động đồng bào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế miền núi; vận động định canh định cư v.v. Nhờ vậy, cuộc sống đồng bào các dân tộc miền núi đã thay đổi từng bước, trình độ tổ chức sản xuất được nâng lên, tăng nguồn lực lao động để khai thác đất đai, tài nguyên đóng góp sức người sức của cho chiến trường miền Nam và góp phần xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Cơ sở vật chất hạ tầng - đường giao thông, trường học, bệnh viện, các công trình thuỷ lợi v.v... cũng được mở rộng và phát triển, các phong tục tập quán lạc hậu, bệnh tật từng bước bị đẩy lùi; hàng ngàn, vạn người con của các dân tộc từ khắp các bản mường lên đường đi chiến đấu, lập công xuất sắc và trở thành những Anh hùng tiêu biểu như: Hà Văn Kẹp; Mai Ngọc Thoảng; Bùi Xuân Chúc; Lương Văn Biêng ; Cầm Bá Trừng v.v. nhiều tập thể đơn vị, địa danh sáng ngời ý chí anh hùng như nhân dân xã Phú Lệ (huyện Quan Hoá), xã Hoá Quỳ (huyện Như Xuân), xã Tân Thành (huyện Thường Xuân) v.v. Trên mặt trận sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt thực hiện công cuộc Định canh định cư vùng miền núi Thanh Hoá đã khẳng định những bước đi, những thành tựu đáng tự hào. Nhiều mô hình làm kinh tế giỏi như Lốc Toong (Quan Hoá), Chiếu Bang (Lang Chánh), đặc biệt nổi lên phong trào khai hoang xây dựng ruộng bậc thang và trồng luồng. Từ phong trào này đã xuất hiện các danh hiệu vua luồng ở Ngọc Lặc - Lang Chánh; vua quế ở Thường Xuân; vua gai ở Bá Thước; vua ngô ở Cẩm Thuỷ; vua cánh kiến ở Quan Hoá, được Bác Tôn tặng lẵng hoa và Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba. Cùng với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế cũng được chú trọng đầu tư phát triển. Hệ thống các trường cấp I, II, III đã hình thành ở các huyện; các trường Thanh niên dân tộc, Sư phạm miền núi, trường Đảng miền núi, các đoàn văn công, đội chiếu bóng miền núi được thành lập, góp phần tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số cho vùng dân tộc và miền núi của tỉnh. Từ khi nước nhà thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Đặc biệt từ khi thực hiện Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị (ngày 27/11/1998), Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị quyết 21/TU của Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá (khoá VII) về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi đã mở ra một thời kỳ mới gắn việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng với các chương trình, dự án nhằm tạo ra bước đột phá để đồng bào các dân tộc hoà nhập vào sự phát triển chung của đất nước. Chương trình định canh định cư, thực hiện trong phạm vi 68 xã, gần 50 nghìn hộ, hơn 251.000 khẩu, từ năm 1968 đến nay đã khai hoang được 4.513 ha ruộng nước và cải tạo 890 ha ruộng thâm canh lúa nước; trồng được 22.015 ha luồng, quế và lâm đặc sản, xây mới 335 công trình thuỷ lợi nhỏ, tưới cho 5.085 ha ruộng. Mở thêm 1.712 km đường giao thông nông thôn, xây dựng được 18.271 m2 trường học; 7.790 m2 trạm y tế; 12 trạm biến áp, 17 km đường điện hạ thế. Nhờ có sự quan tâm đầu tư của nhà nước nên đã hạn.

chế được tình trạng di cư tự do, đồng bào đã ổn cư và từng bước ổn canh, tiến tới chấm dứt tình trạng du canh du cư, chặt phá rừng làm nương rẫy. Chương trình 06/CP về thay đổi cây trồng thay thế cây thuốc phiện tại các xã vùng cao biên giới của huyện Quan Hoá, Mường Lát, Quan Sơn không những giúp đồng bào chấm dứt trồng cây thuốc phiện mà còn thay thế một số cây trồng mới giúp đồng bào ổn định sản xuất và đời sống bởi vì khi còn trồng thuốc phiện đời sống của đồng bào rất khó khăn, tệ nạn xã hội diễn ra rất nặng nề. Chương trình trợ giá, trợ cước mỗi năm nhà nước hỗ trợ trên dưới 10.000 triệu đồng đã giúp đồng bào các mặt hàng thiết yếu như muối iốt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh, giấy vở học sinh, giống cây trồng, phân bón… Nhờ chính sách này đã giúp đồng bào ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất. Đặc biệt Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn (gọi tắt là Chương trình 135) được thực hiện từ năm 1999 đến nay đã đem lại hiệu quả thiết thực. Kết thúc giai đoạn I (1999-2005) trên địa bàn 102 xã đặc biệt khó khăn với 77.394 hộ, 389.500 khẩu, tổng vốn do Trung ương đầu tư 369.662 triệu đồng và 1000 tỷ đồng lồng ghép từ các chương trình dự án khác, nâng mức đầu tư bình quân 1 xã/1tỷ đồng/năm. Nhờ nguồn vốn này đã xây dựng được 553 công trình (điện, đường, trường, trạm, chợ, thuỷ lợi, khai hoang…). Nhờ vậy đến nay có 92% số xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 70% số xã có điểm bưu điện văn hoá; 88/102 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 86,3% số xã được sử dụng điện lưới quốc gia. Ngoài ra còn xây dựng được 22 trung tâm cụm xã, góp phần mở mang giao lưu văn hoá và phát triển kinh tế trong khu vực. Do được đầu tư đúng trọng tâm, đúng đối tượng nên đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 4-5%/năm, diện mạo nông thôn miền núi đã có nhiều khởi sắc. Nếu như Chương trình 135 đầu tư chủ yếu cho cộng đồng thì Chương trình 134 lại hỗ trợ trực tiếp cho hộ về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các hộ đặc biệt khó khăn nhằm thực hiện công bằng xã hội và ngăn chặn tình trạng “tụt hậu” của một bộ phận dân cư ở nơi khó khăn nhất của đất nước. Ngoài những chương trình, dự án trọng điểm nói trên, địa bàn vùng dân tộc và miền núi còn được nhiều tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước giúp đỡ, có nhiều địa phương cùng một thời điểm có nhiều chương trình, dự án cùng đầu tư về kinh phí, nâng cao năng lực cộng đồng, giúp đồng bào giảm bớt khó khăn, yên tâm phát triển sản xuất.

Qua 60 năm liên tục phấn đấu trưởng thành, để phù hợp với các giai đoạn lịch sử cách mạng, cơ quan công tác Dân tộc Thanh Hoá đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau: từ Uỷ ban hành chính đặc biệt miền Thượng du (1947) đến Ban cán sự Miền Tây (1955); Ban Miền Tây thời kỳ 1962-1968; Ban Dân tộc và Định canh định cư (1969-1991); Ban Miền núi và Dân tộc (1992-1997); Ban Dân tộc và Miền núi (1998-2005) và nay là Ban Dân tộc. Dù tên gọi khác nhau, nhưng nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt hơn nửa thế kỷ qua vẫn là cơ quan tham mưu của cấp uỷ, chính quyền tỉnh Thanh Hoá trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt đường lối chính sách Dân tộc của Đảng và Nhà nước. Hiện nay hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc trực thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp đã được thành lập ở 11 huyện, đưa công tác dân tộc trở thành nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị và của tất cả các ngành, các cấp. Để ghi nhận công lao đóng góp của các thế hệ làm công tác dân tộc, Ban Dân tộc Thanh Hoá đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Phấn khởi, tự hào về những thành tựu to lớn đã đạt được trong chặng đường 60 năm, các thế hệ làm công tác dân tộc tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Để tiếp tục phát huy những thành tích to lớn đã đạt được và thực hiện tốt nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới, một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn thực hiện công tác dân tộc ở Thanh Hoá như sau:

Một là, phải nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và công tác dân tộc trên nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Hai là, không ngừng cải tiến phương thức, nội dung, lề lối công tác dân tộc, thực hiện phương châm trọng dân, gần dân và học dân; phải nghe được dân nói và nói để dân hiểu; không nên làm thay, nghĩ hộ đồng bào mà phải vận động, hướng dẫn để đồng bào chủ động trong mọi công việc của mình.

Ba là, nội dung nhiệm vụ của công tác dân tộc liên quan đến đa ngành, đa lĩnh vực vì vậy cần xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu hoạch địch chính sách dân tộc và kiểm tra, giám sát các cấp, các ngành thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh. Không nên chú trọng vào các chương trình, dự án mà coi nhẹ chức năng quản lí nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc.

Bốn là, xây dựng bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác dân tộc theo hướng chính qui tinh gọn đảm bảo có phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Năm là, cần có chính sách đặc thù ưu tiên đãi ngộ đội ngũ cán bộ công chức và lực lượng vũ trang để họ yên tâm phục vụ lâu dài ở vùng dân tộc và miền núi.

Nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp làm công tác dân tộc phải biết tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức đưa công tác dân tộc phát triển lên tầm cao mới, thực hiện thắng lợi chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, xứng danh với truyền thống vẻ vang của cơ quan làm công tác dân tộc vinh dự được Bác Hồ sáng lập.

Lê Văn Nhàn
Trưởng ban Dân tộc Thanh Hóa

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,894,762


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs