Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/04/2007
Bước đầu tìm hiểu quan hệ giữa luật tục và luật thực định
Luật tục là một sản phẩm văn có giá trị về hoá pháp lý độc đáo của các dân tộc thiểu số ở nước ta, có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển hàng ngàn năm nay.

Cũng như nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, ở nước ta qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, bên cạnh pháp luật quốc gia chính thống do Nhà nước ban hành, có hiệu lực bắt buộc trong phạm vi cả nước đối với mọi công dân, còn tồn tại một loại “luật pháp” thứ hai, do cộng đồng dân cư trong các làng xã… tự ban hành và có hiệu lực thi hành trong phạm vi lãnh thổ của những tập thể cộng đồng cư dân đang sinh sống. Điển hình là Hương ước thường gọi một cách dân dã là lệ làng ở đồng bằng; và gọi là luật tục ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Lệ làng thường là những quy định thành văn, còn luật tục phần lớn là truyền miệng. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin gọi chung cả hai hình thức trên là luật tục.Thực tế lịch sử cho thấy, bên cạnh pháp luật quốc gia, luật tục vẫn được các chế độ đương thời vận dụng linh hoạt song hành.

Thời Lê, Điều 40 Luật Hồng Đức quy định: những người thượng du cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người Trung Châu thì theo Luật (tức luật triều đình) mà định tội.Vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam là Bảo Đại (1926 -1945) cũng chú ý đến tục lệ riêng của các dân tộc thiểu số. Năm 1936, nhà vua ban hành Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật. Tại Điều 3 của Dụ 51 được in cùng bộ luật, nhà vua quy định: Bộ luật đó chỉ áp dụng đối với người Việt, còn đối với các dân tộc thiểu số thời cứ giữ theo tục lệ các thổ dân ấy. Ngày 22/7/1965, chính quyền Sài Gòn cũ đã ban hành Sắc luật số 006/65 tái lập Toà án phong tục, tại Điều 6 quy định: “Thành phần Toà án phong tục gồm có Chủ tịch Uỷ ban hành chính (xã trưởng) làm chánh án và 2 phụ thẩm người Thượng do dân cử. Và Toà án phong tục chỉ có thẩm quyền xét xử về dân sự, thường sự cũng như về hình sự trong những trường hợp tất cả các đương sự là người Thượng. Công việc xét xử này đòi hỏi vị xã trưởng Thượng không những phải am hiểu tập tục mà còn phải am hiểu thủ tục phán xử để tránh sự thiếu sót có thể làm phương hại đến quyền lợi của các đương sự và xã hội”.Như vậy, bên cạnh luật thực định, luật tục vẫn được sử dụng để làm chuẩn mực, để điều chỉnh các quan hệ xã hội cổ truyền.

Trên thực tế cũng cho thấy nội dung của luật tục dù là thành văn như luật tục Thái, hay truyền miệng như luật tục Ê đê, M’nông, đều có những điều qui định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền và lợi ích của người quản lý cộng đồng bản , làng và người dân trong cộng đồng trên nhiều mặt của đời sống xã hội, những nội dung đó đều được qui định trong Luật thực định. Nhưng luật tục đề cập đến không phải là một sự mô phỏng, sao chép mà luật tục mang những đặc điểm rất rõ nét của đời sống tộc người, xuất phát từ những nhu cầu cụ thể của bản, làng, được thể hiện dưới dạng truyền miệng hoặc theo một văn phong giản dị, dễ hiểu. Chẳng hạn đối với việc vi phạm trật tự, an ninh xã hội như trộm cắp, đánh chửi nhau, Luật tục Thái qui định chi tiết đến mức hoàn hảo. Từ ăn cắp mạ ngâm, mạ nhổ, ăn cắp lúa gạo lúc mùa đói, mùa no... đến ăn cắp vôi ăn trầu, đều được qui định kèm theo các hình phạt tương ứng về vật chất, với mức độ khác nhau, nghiêm khắc nhưng cũng đầy tình tương thân, tương ái. Luật tục Thái quy định: “Ai ăn cắp cơm đầy hông lúc mùa no, phải phạt 15 lạng bạc kèm theo rượu, trâu phải cúng vía cho chủ cơm 1,5 lạng bạc và trả lại số cơm đã lấy.. Ai ăn cắp cơm đầy hông lúc mùa đói, phải phạt 1 lạng bạc kèm theo rượu, lợn, phải cúng vía cho chủ cơm 1 đồng cân bạc, không phải đền cơm. Chỗ cơm lấy cắp cho người ăn cắp ăn”. Đối với việc quản lý, khai thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên, luật tục qui định cho cộng đồng bên cạnh việc khai thác, sử dụng phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường cho hôm nay và cho cả ngày mai: Bán rừng bon làng phạt; Bán đất bon làng khiếu nại; Bán rẫy lúa mất đất; Bán đất, bán rừng có tội với con cháu. (Luật tục M’nông).

Những quy định của luật tục chi tiết, nhưng không phức tạp, trừu tượng mà rất mộc mạc, dân dã, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người: Đàn ông thường đốt lửa bừa bãi, đàn bà thường đốt lửa bậy, có những người đốt lửa mà làm như kẻ điên, người dại. Ai có con thì phải dạy con, có cháu thì phải dạy cháu, kẻo có khi đi hái củi mà không biết đi, đi suối lấy nước mà không biết đi. E rằng họ sẽ đốt đuốc cầm theo. Lửa sẽ bén vào rừng thiêu trụi cỏ cây, mọi vật. Còn e rằng lửa sẽ cháy lan, thiêu trụi cả xóm làng người ta, thiêu trụi cả chòi, cả kho lúa người ta đã dựng lên trong rừng, trong rẫy, mà xung quanh chưa kịp dọn quang. (Luật tục Ê đê). Trong hoạt động xây dựng pháp luật, một số luật tục có thể được thừa nhận thành pháp luật. Khi xuất hiện pháp luật thực định thì có sự hoà đồng giữa pháp luật thực định và luật tục. Như vậy, luật tục là một trong những nguồn gốc tạo ra pháp luật, là một công cụ bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật trong việc duy trì trật tự xã hội, giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong đồng bào. Bộ Luật Dân sự hiện hành cũng có một số điều thể hiện sự giao thoa giữa luật tục và luật thực định:

Tại khoản 4 điều 625 Bộ Luật dân sự quy định: “Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái với đạo đức xã hội”.Tại điểm c khoản 1 điều 126 Bộ Luật dân sự cho phép sử dụng tập quán ở nơi giao dịch được xác lập để giải thích giao dịch trong trường hợp nội dung giao dịch có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Hay tại điều 9 Bộ Luật dân sự năm 1972 của chế độ Sài Gòn quy định. “Gặp trường hợp không có điều luật nào có thể dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ… “. Luật tục ra đời và tồn tại hàng nhiều thế kỷ nay, bởi thế so với cuộc sống hiện đại ngày nay, bên cạnh những điểm tiến bộ, những giá trị về nhiều mặt, nhất là những giá trị về mặt pháp lý, văn hoá như đã trình bày, luật tục cũng chứa đựng trong nó những hạn chế, không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân và cộng đồng, đôi khi có những chi tiết mâu thuẫn với pháp luật của Nhà nước, cần từng bước loại bỏ ra khỏi đời sống của cộng đồng.

Tục lệ cúng mường, cúng ma, với những lễ nghi rườm rà, tốn kém. Luật tục Thái quy định: Xên mường phải có 1 con trâu đen, 1 con bò, 5 con lợn, 1 con chó, 1 con vịt, 32 con gà, rau quả, ruột cá, trầu cau, ống nước bằng cây bương, ống nước bằng quả bầu, rượu…; Tục lệ bói tìm ma khi ốm đau, chẳng những tốn kém về tiền của mà có khi còn nguy hiểm đến tính mạng; Tập tục thử để xác định xem một người nào đó có tội hay không, nhất là việc thử xem một người nào đó có phải là ma lai hay không (tồn tại theo luật tục Ê đê), bằng cách sửa soạn một cái nồi, đổ dầu vào nấu sôi rồi gọi người đến chứng kiến cuộc thử theo cách múc dầu sôi đổ vào lòng bàn tay (trong lòng bàn tay có lót một ít lá), người nào không bị thủng lá, không bị bỏng là vô tội! Hoặc nhúng tay vào nồi dầu sôi, người nào không bỏng là vô tội! Nếu còn tiếp tục duy trì thì đó là điều không thể chấp nhận được. Hoặc một số tập tục thiếu vệ sinh, nguy hại đến sức khoẻ và vệ sinh môi trường như quàn người chết quá lâu trong nhà, chôn chung mồ, phơi xác chết lộ thiên, táng treo; tập tục buộc phụ nữ phải ra rừng sinh nở; tập tục nối nòi, thách cưới bạc trắng, tảo hôn trong hôn nhân; du canh du cư; trồng và hút thuốc phiện; tục lệ lấy cắp một ‘thì phải đền gấp ba,... cần được tập trung giáo dục ngăn ngừa và loại bỏ vì nó không phù hợp với luật thực định.

Từ những giá trị tốt đẹp và những hạn chế của luật tục trong đời sống hiện nay, thiết nghĩ ngành chức năng cần tập hợp những luật tục có giá trị, đang tồn tại ở các vùng miền trên toàn quốc, qua đó có biện pháp giữ gìn, phát huy những luật tục tốt đẹp, hạn chế tiến tới loại bỏ những luật tục lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống văn minh, trái với luật thực định hiện hành. Phát huy vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (Già làng, trưởng bản, trưởng họ tộc…) là những người vừa vận dụng pháp luật, vừa kết hợp luật tục để giải quyết hầu hết những công việc, mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng. Có cơ chế để họ vừa phải chịu trách nhiệm trước toàn thể thành viên trong cộng đồng và chính quyền cấp cơ sở.

Chú trọng đúng mức việc xây dựng hương ước mới, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phan Hồng Thủy

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,974


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs