Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/04/2007
Một số suy nghĩ về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho vùng miền núi và dân tộc thiểu số thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa


Tập huấn về công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ trẻ 11 tỉnh miền núi phía Bắc.

Muốn phát triển bền vững và thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực miền núi và dân tộc thiểu số, chúng ta cần phải có nguồn nhân lực trình độ cao, trong đó giáo dục đại học đóng vai trò rất quan trọng, bởi chất lượng giáo dục đào tạo ở bậc học này sẽ góp phần vào sự phát triển ở khu vực dân tộc và miền núi.

Trong thời gian qua, giáo dục nói chung, giáo dục đại học và sau đại học nói riêng đã cố gắng tạo điều kiện tốt nhất với nhiều chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số. Ví dụ như ưu tiên cộng thêm điểm cho thí sinh là người dân tộc thiểu số khi dự thi cao đẳng, đại học, sau đại học; mở các trường dự bị đại học dành riêng cho con em đồng bào dân tộc thiểu số (Trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương); mở hệ đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ; v.v. Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách đó đang bộc lộ nhiều yếu kém, một số chính sách chỉ mang tính chất giải quyết tình thế là chính, chưa đáp ứng yêu cầu hình thành chiến lược lâu dài và ổn định, đủ khả năng giải quyết triệt để vấn đề.

Một mặt, nếu không có những ưu tiên kể trên thì học sinh khu vực miền núi và dân tộc rất ít có khả năng thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học, sau đại học, nhất là khối ngành khoa học tự nhiên và công nghệ; nhưng mặt khác, khi ưu tiên ở đầu vào cho các đối tượng, có những trường hợp hơn kém nhau đến 5 điểm, mà lại chưa đề ra giải pháp rút ngắn khoảng cách này, đảm bảo đạt mặt bằng kiến thức chung ở đầu ra. Hậu quả là, số sinh viên trung bình và yếu kém ở các trường đại học, cao đẳng tập trung chủ yếu ở đối tượng thuộc khu vực miền núi và dân tộc.

Riêng đối với hệ thống trường dự bị đại học và hệ cử tuyển thì lại đang thực hiện một chính sách cào bằng, những ai đã có đủ điều kiện để xét vào đó thì gần như sẽ có đầu ra, không có sự cạnh tranh, dẫn đến một số sinh viên đã ỷ lại vào chính sách, không chịu tu dưỡng, phấn đấu vươn lên. Khu vực miền núi và dân tộc đòi hỏi những con người có trình độ ít nhất phải ngang bằng hoặc cao hơn các khu vực khác, để họ không chỉ khắc phục những yếu kém của khu vực mà còn phải làm cho vùng này phát triển, tránh sự tụt hậu đang diễn ra với khoảng cách ngày càng xa so với đồng bằng và đô thị. So sánh kết quả đào tạo cho sinh viên miền núi và dân tộc với yêu cầu đặt ra, cho thấy có những mâu thuẫn bất cập trong việc thực hiện chính sách về giáo dục đối với vùng dân tộc và miền núi. Mặt khác một số chính sách về giáo dục đối với vùng này là sự áp đặt từ trên xuống, không phù hợp với yêu cầu cụ thể của địa phương, chẳng hạn như việc phân bổ chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ và hệ cử tuyển, nhiều khi ngành mà địa phương cần thì không được giao chỉ tiêu, ngành mà địa phương thừa thì vẫn liên tục được giao chỉ tiêu. Hơn thế nữa khi hoạch định chính sách giáo dục, chúng ta lại chưa tính hết các chế tài thưởng, phạt cụ thể đối với các đối tượng thụ hưởng chính sách. Nhiều khi ưu tiên đủ mọi mặt cho sinh viên lúc đang học, nhưng khi học xong họ lại không trở về phục vụ vùng miền núi và dân tộc, nghiễm nhiên những ưu đãi đó trở thành ưu tiên cho cán bộ đồng bằng và thành thị.

Chúng ta đang thực hiện một chương trình đào tạo chung cho cả nước, điều đó có những mặt tích cực và cũng bộc lộ những hạn chế. Chung về chương trình sẽ đào tạo ra những con người có thể tham gia vào hoạt động sản xuất và đời sống xã hội ở những môi trường khác nhau, dễ tổ chức dạy học, lại dễ đánh giá, kiểm tra, v.v. nhưng việc đánh giá khách quan nhất phải là hiệu quả công việc khi sinh viên ra trường tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Do tầng địa văn hoá của từng vùng tạo cho con người có tư chất, lối sống, cách làm việc khác nhau. Nếu không tính đến những đặc thù của từng vùng để đào tạo ra những con người tương xứng thì khi vào hoạt động thực tiễn sẽ đạt được hiệu quả không cao. Đối với sinh viên người dân tộc thiểu số và miền núi nói chung, do môi trường xã hội ít tiếp xúc những công nghệ hiện đại, khi còn học ở bậc phổ thông thì chỉ dừng lại ở học lý thuyết là chủ yếu, mặt bằng kiến thức phổ thông còn thấp hơn so với đồng bằng và thành thị, cho nên khi đào tạo cho đối tượng này, nếu không tăng thời gian thực hành, thực tiễn thì hiệu quả sẽ rất khiêm tốn. Từ những thực tế trên, để đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của khu vực miền núi và dân tộc, cần mạnh dạn thay đổi cả về chính sách và chương trình giáo dục đối với đối tượng sinh viên ở khu vực này.

Trên cơ sở Bộ luật Giáo dục, phải xây dựng một hệ thống chính sách giáo dục đại học đối với khu vực miền núi và dân tộc, trong đó đặc biệt chú trọng những chính sách hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo. Chính sách phải gắn với yêu cầu thực tế của từng tiểu vùng, từng khu vực địa lý, từng dân tộc thậm chí từng nhóm địa phương và đặc biệt là rất mềm dẻo trong từng giai đoạn.Chỉ tiêu đào tạo cử tuyển và theo địa chỉ, cần căn cứ trên nhu cầu của địa phương 4 năm sau trở lên. ở một số lĩnh vực, chấp nhận cạnh tranh trong đối tượng chính sách với nhau, để tránh sự ỷ lại hoặc lợi dụng chính sách. (Ví dụ trường Dự bị đại học, nếu được giao 300 chỉ tiêu thì cho phép gọi đến 350 học sinh, số không đạt về chất lượng trong chỉ tiêu được giao có thể trả về địa phương, cho đi học các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc cho phép đóng góp một phần học phí để tiếp tục theo học lại, v.v.).Các trường đại học, cao đẳng có bộ chương trình tương đối thống nhất, ngoài các môn chung cho khối trường, khối ngành, các môn cơ sở, cơ bản, các trường chủ động lựa chọn một số môn học tự chọn (hoặc lựa chọn). Những học phần tự chọn nằm trong khung chương trình chung và có nội dung thống nhất.

Tuy vậy, phổ biến là phần tự chọn của ngành, của trường, chứ chưa hề có ngành riêng phù hợp với từng khu vực địa lý và từng dân tộc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của từng địa phương thuộc vùng dân tộc và miền núi.Để khắc phục tình trạng trên có thể lựa chọn chương trình đào tạo cho học sinh miền núi và dân tộc theo hai hướng: Thành lập một Học viện hoặc một Trường đại học đa ngành, dành riêng để đào tạo sinh viên dân tộc và miền núi. Trong Học viện hay Trường đại học đa ngành này, ngoài chương trình chung (phần cứng) thống nhất trong cả nước, sẽ có những ngành tự chọn, môn học tự chọn mang tính đặc thù cho từng khu vực miền núi (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) và dân tộc (Tày, Nùng, Thái, Mông, Êđê, Giarai, Khmer…), thậm chí chọn những chuyên đề đáp ứng yêu cầu đối với từng tiểu vùng cụ thể. Sự lựa chọn này dựa trên cơ sở kết hợp nghiên cứu vùng, miền với đào tạo; mở ra hướng đào tạo có sự kết hợp giữa truyền thống và những vấn đề mới, giữa cái chung với cái riêng, đồng thời xây dựng được chiến lược nghiên cứu và phát triển về các tiểu vùng và nhanh chóng ứng dụng những thành tựu nghiên cứu vào đời sống thực tiễn ở từng khu vực.

Trên cơ sở các trường đại học, cao đẳng hiện nay, trong tất cả các ngành có đào tạo sinh viên miền núi và dân tộc, cần lựa chọn cả về chương trình và phương pháp đào tạo riêng cho loại đối tượng này. Ngoài phần kiến thức cơ bản và phần kiến thức chung, sinh viên sẽ được học một số những kiến thức chuyên ngành phù hợp với địa phương mình và sẽ được đầu tư vào học các môn cơ bản và cơ sở nhiều hơn để giải quyết những chênh lệch về mặt bằng kiến thức cơ bản lúc thi đầu vào, nhất là đầu tư thời gian vào thực hành, thí nghiệm để tăng năng lực thực tiễn của sinh viên. Ngoài ra, để cho nền giáo dục bậc cao của đất nước nói chung, của khu vực miền núi và dân tộc nói riêng phát triển đáp ứng được những yêu cầu của thời đại, còn phải khắc phục và hạn chế một số nhược điểm trong nền giáo dục của cả nước như: Điều chỉnh kế hoạch và chương trình đào tạo theo nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Cho đến nay, một số ngành đào tạo đã thừa hoặc trong một vài năm nữa sẽ thừa nhưng vẫn được giao chỉ tiêu đào tạo rất nhiều, nên khi sinh viên tốt nghiệp rất khó kiếm việc làm, dẫn đến nhiều tiêu cực. Mặt khác, trong chương trình giáo dục hiện nay của một số ngành quá nặng về lý thuyết và sách vở, khâu thực hành, thí nghiệm quá thiếu thốn và lạc hậu, do đó năng lực thực tiễn của sinh viên sau khi ra trường còn rất thấp.Cải cách các hình thức thi, kiểm tra: Trong thực tế của nhiều trường, nhiều môn học thầy vừa dạy vừa ra đề và chấm thi, như vậy rất thiếu khách quan, không nói là dễ có nhiều tiêu cực trong cả khi dạy và khi chấm. Điều chỉnh giáo dục phổ thông: Giáo dục phổ thông là cơ sở, nền tảng của giáo dục bậc cao. Nếu không có nền tảng vững chắc thì tiến hành các giai đoạn đào tạo tiếp theo sẽ hết sức khó khăn và hiệu quả sẽ không được như mong muốn.

Giáo dục bậc cao là trực tiếp đào tạo ra những con người kiến thiết và đưa đất nước phát triển. Khu vực miền núi và dân tộc ở nước ta đang rất cần có những con người hoạt động có hiệu quả để đưa vùng này sớm thoát khỏi đói nghèo và thu hẹp dần khoảng cách phát triển so với các vùng khác. Có được những con người đáp ứng được những đòi hỏi đó, phải trông chờ vào sự đổi mới của nền giáo dục trong thời gian tới và trông chờ vào sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà đầu tư và nhất là của Đảng và Nhà nước.

TS. Hoàng Hữu Bình

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,397


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs