Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/02/2005
Giải pháp đầu tư phát triển giáo dục phổ thông vùng dân tộc và miền núi


Sinh viên người dân tộc thiểu số Trường Cao đẳng sư phạm Gia Lai - những nhà giáo tương lai của tỉnh

Trong hệ thống giáo dục của nước ta, giáo dục phổ thông có vị trí quan trọng hàng đầu bởi “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của dân tộc. Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam XHCN, đồng thời chuẩn bị lực lượng lao động dự trữ cho sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và tăng cường quốc phòng”(1).

        Giáo dục phổ thông được chia các bậc: Bậc tiểu học, bậc trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Giáo dục phổ thông là bộ phận lớn nhất của sự nghiệp giáo dục trong cả nước và ở mỗi địa phương, giáo dục phổ thông liên quan đến từng địa phương, từng gia đình…

        Giáo dục phổ thông có mục tiêu kép đó là đào tạo một đội ngũ nhân lực đi vào thị trường lao động và một bộ phận tiếp tục học lên để đáp ứng các yêu cầu cao của khoa học kỹ thuật, công nghệ phục vụ xã hội và đất nước.

        Chiến lược giáo dục 2001-2010 đã khẳng định: Phát triển quy mô giáo dục đại trà cũng như giáo dục mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo với sử dụng. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…

        Với giáo dục phổ thông: Tiếp tục thực hiện giáo dục toàn diện về đức - trí - thể - mỹ, cung cấp học vấn phổ thông đảm bảo yêu cầu cơ bản hiện đại gắn với Việt Nam.

        + Cấp tiểu học: Phấn đấu củng cố nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước. Phấn đấu tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường là 97% năm 2005 và 99% năm 2010. Chuẩn bị điều kiện để đến năm 2010 có 100% học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày tại trường.

        + Cấp THCS: Đạt chuẩn phổ cập THCS ở các thành phố đô thị, vùng kinh tế phát triển vào năm 2005 và trong cả nước vào năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi lên 85% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010.

        + Cấp THPT: Thực hiện phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông cơ bản theo một chuẩn thống nhất… tạo điều kiện phân ban, phân luồng hợp lý sau THPT. Tăng tỷ lệ học tập THPT trong độ tuổi lên 50% vào năm 2005 và 60-70% vào năm 2010. Năm 2010 có khoảng 60% số trường phổ thông được nối mạng Internet (cả tiểu học và THCS).

        Những năm qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo ngành giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng và đã có những bước phát triển cả về chất lượng và số lượng. Về quy mô phát triển nhanh. Năm 2004 tổng số học sinh phổ thông là 17.745.966 (tiểu học: 8.534.700, THCS: 6.606.572, THPT: 2.604.694). Song bên cạnh đó việc đầu tư cho giáo dục mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không theo kịp với quy mô phát triển và đòi hỏi cao của xã hội nên các vùng khó khăn (dân tộc, miền núi) lại càng khó khăn hơn.

        Thực tế đó có thể thấy ở tỷ lệ đi học đúng độ tuổi theo nhóm dân tộc (xem bảng 1).

        Bảng 1. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi theo nhóm dân tộc

  Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông
1993 1998 2002 1993 1998 2002 1993 1998 2002
Cả nước 86,7 91,0 90,1 30,1 61,7 72,1 7,1 28,6 41,8
Người Kinh & người Hoa 90,6 93,3 92,1 36,6 62,2 75,9 9,7 31,9 45,2
Các DTTS 63,8 82,2 80,0 6,6 36,5 48,0 2,1 8,1 19,3

        (Nguồn: Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 - Nghèo. Hà Nội, 2003)

        Hiện nay giáo dục được ưu tiên cao về chi ngân sách, tỷ lệ chi ngân sách Nhà nước đã tăng lên trong những năm gần đây: khoảng 3% GDP (UNESCO thông báo là 2,3%). Từ năm 2000 đến 2003 ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục đào tạo tăng bình quân 21,3%/năm, trong khi đó tổng ngân sách Nhà nước chi tăng 14,8%/năm. Tuy nhiên vẫn còn sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Nếu chỉ chi theo công thức phân bổ ngân sách dựa trên số dân thì sẽ không đem lại mức chi phí bằng nhau trên một học sinh, nếu không có những hệ số quy đổi để bù đắp cho những khác biệt này. (xem bảng 2)

        Bảng 2. Khác biệt giữa các vùng về chi trung bình cho trường học

  GDP trên đầu người (1.000đ) Chi GD theo % GDP %GDP Chỉ tiêu trung bình
Tiểu học THCS THPT Tiểu học THCS THPT
Toàn quốc 3.697 3,8 1,9 0,9 0,4 381 418 969
ĐB Sông Hồng 4.010 2,6 0,9 0,9 0,4 340 417 809
Đông Bắc 2.321 5,0 2,3 1,5 0,6 374 466 956
Tây Bắc 2.133 6,6 3,7 1,3 0,5 490 444 782
Bắc Trung Bộ 2.368 4,1 2,0 1,2 0,5 315 346 742
Nam Trung Bộ 2.998 3,5 1,5 1,1 0,5 348 459 1.046
Tây Nguyên 3.355 4,5 2,6 0,7 0,5 421 325 1.124
Đông Nam Bộ 8.598 1,5 0,6 0,3 0,2 423 484 1.365
ĐB sông Cửu Long 3.811 2,3 1,2 0,6 0,3 340 401 930

(Nguồn: Đánh giá chi tiêu công năm 2000)

        Mặt khác, do điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi vùng khác nhau, nên việc chi tiêu của các tỉnh dành cho giáo dục phổ thông cũng khác nhau (xem bảng 3)

        Bảng 3. Tỷ trọng của các vùng trong chi tiêu cho giáo dục phổ thông

Đơn vị: %

  Tỷ lệ % trong tổng chi
Tiểu học THCS THPT
Toàn quốc 100 100 100
ĐB Sông Hồng 15,0 23,6 20,8
Đông Bắc 15,8 17,2 15,0
Tây Bắc 4,7 2,6 2,1
Bắc Trung Bộ 13,0 13,4 11,8
Nam Trung Bộ 8,2 9,5 9,0
Tây Nguyên 6,0 2,6 4,2
Đông Nam Bộ 17,0 14,6 21,0
ĐB Sông Cửu Long 20,4 16,4 15,9

        (Nguồn: Báo cáo chi tiêu công 2000)

        Qua hệ thống số liệu so sánh và qua thực tế cho thấy việc đầu tư và chi cho giáo dục phổ thông ở các vùng dân tộc, miền núi còn thấp; do đó trường lớp, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất thiết bị phục vụ dạy học và số lượng, chất lượng học sinh còn có sự chênh lệch lớn so với vùng đồng bằng và những vùng thuận lợi khác.

        Hiện nay có khoảng 94% giáo viên tiểu học ở vùng dân tộc, miền núi hưởng lương Nhà nước, song họ rất khó khăn do cơ sở hạ tầng kém, giá cả lên cao cho nên chi phí lương không đủ cho cuộc sống…

        Các trường học ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn hết sức tạm bợ, có nhiều nơi ở vùng dân tộc một trường chính (tiểu học) có rất nhiều điểm trường lẻ, (thậm chí có tới 21 điểm trường lẻ) như Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái… rất khó khăn cho việc dạy- học của giáo viên và học sinh.

        Để thực hiện được các mục tiêu của chiến lược cũng như các yêu cầu của ngành đáp ứng yêu cầu xã hội. Và để hỗ trợ cho chương trình hành động quốc gia về giáo dục cho mọi người, dự tính mỗi năm nước ta cần đầu tư cho giáo dục hơn 1 tỷ USD và số này sẽ tăng lên 2,5 tỷ USD vào năm 2015. Với số tiền này chúng ta phải tính đến sự phân bổ như thế nào để các trường học ở vùng khó khăn, miền núi có thể trang trải và hỗ trợ cho quá trình tổ chức dạy học, giáo dục có hiệu quả.

        Do đó để đầu tư cho giáo dục phổ thông vùng dân tộc, miền núi hiệu quả, sớm đưa giáo dục các vùng này hoà nhập vào giáo dục cả nước thì chúng ta cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:

        1. Cần dành thêm ngân sách cho các trường tiểu học và trung học, đặc biệt là các vùng và địa phương khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc, cần xây dựng công thức phân bổ ngân sách có tính chuyên biệt cho các vùng khó khăn này. Vì số học sinh trong một lớp ít song vẫn phải duy trì một đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ dạy học như các trường có đông học sinh khác.

        2. Có chính sách đầu tư (các địa phương chủ động) cụ thể xây dựng thêm các trường để đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS, tăng số lượng học sinh phổ thông và hoạt động cả ngày tại trường, bước đầu tăng tỷ lệ các trường được xây dựng theo chuẩn quốc gia. Đặc biệt ở các vùng khó khăn cần quan tâm xây dựng trường kiên cố, bán kiên cố và thực hiện chính sách ưu đãi về đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục. Đẩy nhanh tốc độ chương trình kiên cố hoá trường học để trong thời gian ngắn những vùng khó khăn có đủ các điều kiện trường ra trường, lớp ra lớp.

        3. Do đội ngũ giáo viên ở các vùng này yếu và thiếu về số lượng (có 12% trong số 362.627 giáo viên tiểu học trong cả nước là người dân tộc thiểu số), lại phải đảm đương một chương trình giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết 40 và 41 của Quốc hội nên có nhiều bất cập. Do đó phải có sự đầu tư đặc biệt, đó là dùng một khoản ngân sách lớn để bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ này theo kiểu cuốn chiếu và riêng biệt để sau một thời gian ngắn đảm đương chương trình mới nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng dân tộc.

        4. Muốn cho chất lượng học sinh được nâng cao, sớm tiến kịp vùng thuận lợi thì song song với việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên chúng ta phải đầu tư nguồn tài chính để tăng cường và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục. Đầu tư một lần để xây dựng các thư viện và phòng thí nghiệm đồng bộ bởi những vùng này điều kiện tiếp cận, cập nhật thông tin phục vụ dạy học còn nhiều khó khăn.

        5. Đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ, trang thiết bị, đổi mới chương trình của các trường cao đẳng sư phạm, trung học sư phạm ở các tỉnh miền núi để làm tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên địa phương theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá.

        Tóm lại: Để đầu tư cho giáo dục hiệu quả cần triển khai đồng bộ nhiều hệ thống giải pháp. Trên đây chúng tôi chỉ nêu một số giải pháp cơ bản xem như là các “điểm nhấn” cho điều kiện thực tế hiện nay của giáo dục phổ thông vùng khó khăn, vùng dân tộc.

        Trong điều kiện đất nước còn khó khăn để đầu tư cho giáo dục có hiệu quả, Chính phủ cần có một lộ trình cụ thể việc chi phí cho từng ngành học, cấp học và cho từng vùng. Song trước mắt đối với các cấp học phổ thông có tính phổ cập và cải cách ở những vùng dân tộc, miền núi, Chính phủ cần tập trung kinh phí đối với chương trình phổ cập THCS, THPT và củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện kế hoạch quốc gia về giáo dục cho mọi người cũng như quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí đầu tư ở khu vực này, đồng thời cần xây dựng và khuyến khích sự tham gia của cơ sở và nhân dân, thể hiện sự lựa chọn của nhân dân qua sự phân bổ ngân sách cho giáo dục phản ánh đúng nguyện vọng của họ. Bên cạnh đó để cơ chế hoạt động có hiệu quả cần nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý tài chính giáo dục hữu hiệu./.

 

ThS. Nguyễn Thành Vinh
Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo
nghiệp vụ công tác dân tộc

----------
(1) Nghị quyết Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. NXB Sự thật- 1975, tr29.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,264,639


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs